1. Tổng quan về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

Quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân không có nghĩa là quy định loại tội phạm thứ hai - tội phạm có chủ thể thực hiện là pháp nhân bên cạnh tội phạm có chủ thể thực hiện là cá nhân đã được quy định. Theo đó, bổ sung quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân không đòi hỏi phải có 2 hệ thống các quy định - Các quy định về tội phạm do cá nhân/thể nhân thực hiện như đã có và các quy định về tội phạm do pháp nhân thực hiện cần bổ sung. Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân chỉ có nghĩa bổ sung quy định về chủ thể thứ hai có thê’ phải chịu trách nhiệm hình sự vể hành vi phạm tội do chủ thể là cá nhân/thể nhân thực hiện. Đây là trách nhiệm hình sự mở rộng trong mối quan hệ với trách nhiệm hình sự của cá nhân/thể nhân đối với cùng hành vi phạm tội.Trách nhiệm hình sự của cá nhân/thể nhân và trách nhiệm hình sự của pháp nhân đều liên quan đến cùng tội phạm do cá nhân/thể nhân thực hiện. Như vậy, chỉ có tội phạm do cá nhân - người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện và có thể có hai chủ thể cùng phải chịu trách nhiệm hình sự - chủ thể là người phạm tội và chủ thể là pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự.

“Tính nghiêm trọng của tội phạm (do cá nhân thực hiện) không phụ thuộc vào việc luật quy định chỉ có cá nhân thực hiện phải chịu trách nhiệm hình sự hay luật quy định cả cá nhân và pháp nhân đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp, cả cá nhân và pháp nhấn đêu phải chịu trách nhiệm hĩnh sự thì cả hai chủ thể đểu phải chịu trách nhiệm hình sự vê cùng tội phạm với cùng tính nghiêm trọng...”.

Như vậy, việc quy định chủ thể của trách nhiệm hình sự còn có thể là pháp nhân "... chỉ có ý nghĩa mở rộng phạm vi chủ thể có thể phải chịu trách nhiệm hình sự và do vậy cũng mở rộng các hình thức chẽ tài hình sự cho phù hợp với chủ thể được bổ sung này. Vấn đề trách nhiệm hình sự về cơ bản vẫn là trách nhiệm hình sự của cá nhân. Quan niệm về tội phạm... cũng như các chế định khác của pháp luật hình sự về cơ bản không bị ảnh hưởng bởi việc mở rộng phạm vi chủ thể của trách nhiệm hình sự...”.

Nghiên cứu thực tiễn lập pháp hình sự của 9 quốc gia nước ngoài cho thấy việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trước hết và quan trọng nhất là quy định điểu kiện pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự bên cạnh quy định phạm vi pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự và phạm vi các tội mà pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Tất cả các quốc gia được nghiên cứu, từ quốc gia mà BLHS có tương đối nhiều quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân như Pháp đến các quốc gia mà BLHS chỉ có ít điều luật quy định về vấn đê' này như Thụy Sỹ đều không thể hiện xu hướng có hai hệ thống quy định về 2 loại tội phạm mà chỉ là quy định (với ít hoặc nhiều điều luật) về điều kiện và nội dung phải chịu trách nhiệm hình sự của chủ thể thứ hai là pháp nhân.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân và trách nhiệm hình sự của cá nhân/thể nhân tuy đều bắt nguồn từ cùng một tội phạm nhưng độc lập với nhau và không loại trừ nhau. Trách nhiệm hình sự của cá nhân phát sinh do cá nhân đã thực hiện hành vi bị pháp luật hình sự coi là tội phạm và do vậy cơ sở pháp lý ở đây là cầu thành tội phạm trong luật hình sự. Trong khi đó, trách nhiệm hình sự của pháp nhân phát sinh do pháp nhân có quan hệ đặc biệt với cá nhân đã thực hiện tội phạm cũng như với tội phạm đã được cá nhân thực hiện đó, và do vậy, cơ sở pháp lý ở đầy là mối quan hệ đặc biệt đó (đã được luật cụ thể hóa thành các điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân). Tuy nhiên, để có thể xác định quan hệ đặc biệt này, trước hết cẩn xác định tội phạm đã được thực hiện. Ở đây cần chú ý: Xác định tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân và xác định tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự cá nhân không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Xác định tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự cá nhân phải gắn với hành vi của từng cá nhân hoặc với các hành vi của nhóm cá nhân là đồng phạm với nhau, còn xác định tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân là gắn với hành vi của cá nhân nói chung, có thể là một cá nhân, nhiều cá nhân đồng phạm với nhau hoặc nhiều cá nhân nhưng không đồng phạm với nhau. Theo đó, trong trường hợp có nhiều cá nhân mà họ không đồng phạm với nhau, có thể xảy ra khả năng không có hành vi nào của các cá nhân này đủ mức độ (khách quan) của tội phạm nhưng tổng hợp các hành vi của họ lại đủ mức độ (khách quan) của tội phạm. Trong trường hợp này, do hành vi của mỗi người chưa đủ cấu thành tội phạm nên không có tội phạm do cá nhân cụ thể thực hiện và theo logic có nghĩa không có tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân. Tuy nhiên, vẫn có thể coi có tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân. Đó là tội phạm được hình thành từ các hành vi của các cá nhân khác nhau.

Do có sự khác nhau về cơ sở pháp lý nên trách nhiệm hình sự của pháp nhân và trách nhiệm hình sự của cá nhân/thể nhân tuy có hên quan với nhau nhưng cả hai đều có tính độc lập tương đối. Tính độc lập này thể hiện ở sự không phụ thuộc vào nhau giữa hai loại trách nhiệm hình sự - trách nhiệm hình sự của pháp nhân và trách nhiệm hình sự của cá nhân/ thể nhân. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân chỉ đòi hỏi có tội phạm xảy ra mà không đòi hỏi chủ thể đã thực hiện tội phạm đó phải chịu trách nhiệm hình sự. Thông thường, đối với cùng tội phạm đã xảy ra có thể có trách nhiệm hình sự của cả pháp nhân và cá nhân/thể nhân. Tuy nhiên, trong trường hợp cá biệt có thể khống có một trong hai trách nhiệm hình sự đó vì một trong hai chủ thể được miễn trách nhiệm hình sự. Thuộc về trường hợp cá biệt này còn có thể là trường hợp hành vi của từng cá nhân không đủ mức (khách quan) của tội phạm nên chưa cấu thành tội phạm nhưng hành vi tổng hợp của các cá nhân lại đủ mức (khách quan) của tội phạm đã được nêu trên. Đây là trường hợp không có trách nhiệm hình sự của cá nhân do hành vi của cá nhân cụ thể chưa cấu thành tội phạm nhưng vẫn có trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Đối với Việt Nam, có thể có trường hợp ngược lại: Có trách nhiệm hình sự của cá nhân nhưng không có trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại do luật quy định dấu hiệu nhân thân của cá nhân là dấu hiệu định tội cũng như quy định thêm dấu hiệu pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự ở một số tội.

Kết quả nghiên cứu thực tiễn lập pháp hình sự của 9 quốc gia nước ngoài được nghiên cứu cho thấy, pháp luật hình sự của các quốc gia này, có thể là BLHS như của Pháp, là luật hình sự riêng lẻ như của Áo hoặc là luật chuyên ngành như của Nhật Bản đều phản ánh nguyên tắc trách nhiệm hình sự độc lập của pháp nhân đối với trách nhiệm hình sự của cá nhân/thể nhân. Điều này cũng thể hiện rõ không có tội phạm thứ hai vì chỉ khi có chung tội phạm nên vấn để quan hệ giữa trách nhiệm hình sự của hai chủ thể mới có lý do được đặt ra.

Theo bản chất của vấn để như đã trình bày, tội phạm mà pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự là tội phạm do cá nhần/thể nhân thực hiện mà không phải do pháp nhân thực hiện (theo đúng nghĩa). Ở đây chỉ có người phạm tội đồng thời cũng là người phải chịu trách nhiệm hình sự và pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, sẽ là chính xác khi gọi pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự thay vì gọi pháp nhân phạm tội. ĩheo đó, dưới góc độ tố tụng hình sự, có thể gọi pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự; pháp nhân bị kết án thay vì gọi pháp nhân phạm tội để tránh hiểu lầm. Tuy nhiên, cũng có thể gọi hoặc viết pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự là pháp nhân phạm tội, pháp nhân thực hiện tội phạm nhưng chỉ với nghĩa pháp nhân bị coi là phạm tội, bị coi là thực hiện tội phạm.  Đối với cá nhân/thể nhân, vì thực hiện tội phạm nên họ phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với pháp nhân, vì phải chịu trách nhiệm hình sự do thỏa mãn các điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự nên pháp nhân bị coi là phạm tội, bị coi là thực hiện tội phạm. Theo đó, pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự cũng có thể bị coi là chủ thể của tội phạm. Ở nghĩa này, tội phạm đã xảy ra tuy chỉ là một nhưng được coi là có hai chủ thể thực hiện - chủ thể cá nhần/thể nhân là chủ thể “thực” và chủ thể pháp nhân là chủ thể “ảo”. Trong đó, chủ thể “ảo” pháp nhân được coi là chủ thể thực hiện hành vi tổng hợp của tất cả các hành vi của các cá nhân đồng phạm hoặc không đồng phạm với nhau. Cá nhân/thể nhân - chủ thể thực hiện “thực” chỉ chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của chính mình và hành vi đồng phạm với mình, còn pháp nhân - chủ thể thực hiện “ảo” phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tổng hợp của tất cả các cá nhân/thể nhân.

Tóm lại, theo đúng nghĩa chỉ có tội phạm do người thực hiện nên chỉ có người phạm tội và chủ thể của tội phạm chỉ có thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Pháp nhân chỉ có thể là chủ thể của trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, khi pháp nhân thỏa mãn các điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự thì cũng có thể bị coi là đã thực hiện tội phạm, bị coi là chủ thể của tội phạm và do vậy có thể được gọi tên là pháp nhân phạm tội. Pháp nhân có thể được gọi là pháp nhân phạm tội cũng như có thể được xác định là đã thực hiện tội phạm nhưng điều đó không có nghĩa có tội phạm thứ hai là tội phạm do pháp nhân thực hiện và do vậy cũng không có nghĩa đòi hỏi có hệ thống các quy định thứ hai trong BLHS quy định về tội phạm do pháp nhân thực hiện bên cạnh các quy định về tội phạm do con người thực hiện. Các quy định này bao gồm các quy định chung về tội phạm trong Phần những quy định chung của BLHS và các quy định về dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung của các tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của BLHS.

 

2. Nội dung quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Bản chất của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân xác định nội dung quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Theo đó, nội dung cần thiết phải được xây dựng khi quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân là:

-         Điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân;

-         Phạm vi chủ thể được xác định là pháp nhấn;

-         Phạm vi các tội pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự;

-         Các chế tài đối với pháp nhân.

 

3. Điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Như đã trình bày, cơ sở phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân không phải là việc pháp nhân đã thực hiện tội phạm mà là “quan hệ đặc biệt” giữa pháp nhân với người phạm tội và tội phạm đã được thực hiện. Vì có quan hệ đặc biệt như vậy mà hành vi phạm tội tuy do cá nhân thực hiện nhưng cũng có thể được coi như là hành vi phạm tội của pháp nhân và việc quy trách nhiệm hình sự cho pháp nhân được coi là “hợp lý”. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân là cần thiết, đảm bảo tính công bằng. Quan hệ đặc biệt này được pháp luật cụ thể hóa thành các điểu kiện phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

Trên cơ sở nhận thức bản chất của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân và tham khảo thực tiễn lập pháp trách nhiệm hình sự của pháp nhân của một số quốc gia, có thể rút ra các trường hợp (thông thường) với điều kiện cụ thể mà pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự sau:

-         Trường hợp thứ nhất, pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà tội phạm đó là hành vi cố ý không thực hiện nghĩa vụ được quy định trực tiếp cho pháp nhân như nghĩa vụ đóng thuế, nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động V.V.. Trong trường hợp này, hành vi phạm tội (cố ý không thực hiện nghĩa vụ của pháp nhân) gắn liền với lợi ích của pháp nhân và hành vi này chỉ có thể được thực hiện bởi người có trọng trách nhất định của pháp nhân. Như vậy, bản thân tính chất của tội phạm ở đây đã tự phản ánh quan hệ đặc biệt giữa tội phạm và người thực hiện tội phạm với pháp nhân. Do vậy, khi tội phạm đã được xác định thuộc loại tội phạm này thì không cần đặt ra việc xác định quan hệ đặc biệt giữa tội phạm cũng như người phạm tội với pháp nhân.

- Trường hợp thứ hai, pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà tội phạm đó được cá nhân nhân danh pháp nhân thực hiện và vì lợi ích của pháp nhân. Ví dụ: Lãnh đạo doanh nghiệp đưa hối lộ cho quan chức để được giải quyết công việc của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, tính chất của tội phạm chưa tự phản ánh quan hệ đặc biệt giữa pháp nhân với tội phạm và người phạm tội như trong trường hợp thứ nhất. Do vậy, đòi hỏi phải có hai điều kiện kèm theo để phản ánh quan hệ đặc biệt này. Đó là “nhân danh pháp nhân” phản ánh quan hệ giữa pháp nhân với người phạm tội và “vi lợi ích của pháp nhân” phản ánh quan hệ đặc biệt giữa pháp nhân với tội phạm được thực hiện.

Trong hai đặc điểm phản ánh quan hệ đặc biệt giữa pháp nhân với người phạm tội và tội phạm mà người này đã thực hiện, đặc điểm “vì lợi ích của pháp nhân” có tính tương đối cụ thể hơn so với đặc điểm “nhân danh pháp nhân”. Không phải ai cũng có thể “nhân danh pháp nhân” mà phải là người có vị trí nhất định trong pháp nhân. Tuy nhiên, việc xác định người phạm tội trong trường hợp cụ thể có phải là “nhân danh pháp nhân” hay không có thể không dễ ràng. Do vậy, pháp luật có thể cụ thể hóa đặc điểm “nhân danh pháp nhân” qua việc xác định chức danh cụ thể. Ví dụ: Điểu 121-2 BLHS Pháp xác định người thực hiện tội phạm trong trường hợp pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự phải là “cơ quan” lãnh đạo (Tổng giám đốc, Hội đồng quản trị v.v.) hoặc “người đại diện” của pháp nhân.

Người “nhân danh pháp nhân” có thể trực tiếp thực hiện hoặc dùng tư cách “nhân danh pháp nhân” giao cho người khác thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi tự ý của các thành viên bình thường của pháp nhân không thể là hành vi nhân danh tổ chức.

Đặc điểm “vì lợi ích của pháp nhân” đòi hỏi hành vi được thực hiện là có lợi hoặc nhằm có lợi cho pháp nhân. Qua việc tội phạm được thực hiện, pháp nhân có thể nhận (hoặc giữ lại) được lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần hoặc lợi thế nhất định.

Về lý thuyết, trường hợp thứ nhất và trường hợp thứ hai là hai trường hợp khác nhau. Tuy nhiên, cũng có thể coi trường hợp thứ nhất là dạng đặc biệt của trường hợp thứ hai vì trường hợp thứ nhất cũng có tính chất “nhân danh pháp nhân” và “vì lợi ích của pháp nhân”. Tính “nhân danh pháp nhân” và “vì lợi ích của pháp nhân” là gắn liền với hành vi vi phạm nghĩa vụ của pháp nhân nên không cần phải chứng minh. Trong khi đó, ở trường hợp thứ hai, tính “nhân danh pháp nhân” và “vì lợi ích của pháp nhân” không phải đương nhiên gắn với hành vi phạm tội nên phải xác định và chứng minh để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân. Trong thực tiễn lập pháp, có thể không có sự phân biệt giữa hai trường hợp này và coi trường hợp thứ nhất và trường hợp thứ hai là một. Do vậy, một số quốc gia không quy định trường hợp thứ nhất thành trường hợp riêng (như Pháp, Việt Nam).

Trong cả hai trường hợp trên, việc xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân là theo thuyết đồng nhất trách nhiệm - hành vi phạm tội của cá nhân “nhân danh pháp nhân” và “vì lợi ích của pháp nhân” được coi là hành vi phạm tội của pháp nhân. Do vậy, khi dấu hiệu của các trường hợp này thỏa mãn, pháp nhân có thể bị coi là đã thực hiện tội phạm.

- Trường hợp thứ ba, pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp thành viên của pháp nhân đã phạm tội khi thực hiện công việc được pháp nhân giao và việc xảy ra tội phạm này có phần lỗi của pháp nhân. Ví dụ: Công nhân A được xí nghiệp giao sửa chữa nhà cho khách hàng. Trong khi hàn, công nhân A đã gây hỏa hoạn dẫn đến chết người, hủy hoại tài sản của người khác vì đã không tuần thủ đúng quy định vể phòng cháy. Việc không tuân thủ này có nguyên nhân một phần từ phía xí nghiệp đã không tập huấn đầy đủ theo quy định cho A cũng như các công nhân khác về vấn đề phòng cháy cũng như an toàn lao động nói chung. Trong trường hợp này, tội phạm đã thực hiện không phải là hành vi vi phạm nghĩa vụ của pháp nhân như trong trường hợp thứ nhất và cũng không phải là hành vi nhân danh và vì lợi ích của pháp nhân như trong trường hợp thứ hai. Tuy nhiên, tội phạm đã xảy ra cũng như chủ thể thực hiện vẫn có quan hệ đặc biệt với pháp nhân tương tự như trong trường hợp thứ nhất và thứ hai nên trách nhiệm hình sự có thể được đặt ra cho pháp nhân. Trước hết, tội phạm xảy ra trong khi người phạm tội (là người của pháp nhân) thực hiện công việc của pháp nhân, và thứ hai, quan trọng hơn, việc tội phạm xảy ra có nguyên nhân từ phía pháp nhân. Pháp nhân đã không thực hiện đẩy đủ trách nhiệm phòng ngừa hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra từ công việc của các thành viên với ý nghĩa là công việc được giao và là bộ phận hợp thành hoạt động chung của pháp nhân. Do vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân trong trường hợp này là có cơ sở và cần thiết để răn đe pháp nhân, buộc pháp nhân phải có biện pháp phòng ngừa sự tái diễn tội phạm tương tự trong tương lai. Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong trường hợp này là theo thuyết văn hóa pháp nhân - Hành vi phạm tội gây thiệt hại của cá nhân được quy cho pháp nhân cùng phải chịu khi pháp nhân có lỗi đối với việc tội phạm xảy ra. Điều đặc biệt của trường hợp thứ ba là có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự của chủ thể thứ ba - Người có trách nhiệm của pháp nhân.

Trong ba trường hợp có thể quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân được nêu trên đây, trường hợp thứ nhất là trường hợp rõ và dễ được chấp nhận nhất, tiếp đó là trường hợp thứ hai. Trường hợp thứ ba là trường hợp mở rộng trách nhiệm hình sự nhất và cũng khó được chấp nhận nhất. Theo đó, trong thực tiễn lập pháp, nhiều quốc gia xác nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân thuộc trường hợp thứ nhất và thứ hai.

 

4. Kỹ thuật quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Kỹ thuật quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân phụ thuộc vào nội dung quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân cũng tương tự như bản chất của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân quyết định nội dung cần được quy định về vấn đề này. Từ quan niệm về bản chất của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân chỉ là việc bổ sung chủ thể thứ hai có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã xảy ra trong trường hợp chủ thể này có quan hệ đặc biệt với hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội có thể rút ra nội dung quy định như được trình bày tại mục trên. Theo đó:

-         Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân không làm thay đổi các quy định đã có trong Phần những quy định chung (Phần chung) của BLHS;

-         Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân cũng không làm thay đổi các dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung cũng như quy định khác (nếu có) của các tội cụ thể trong Phần các tội phạm (Phần riêng) của BLHS; và

-         Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân chỉ là bổ sung:

+ Quy định về phạm vi các hình thức tổ chức được coi là “pháp nhân” - chủ thể phi cá nhân/thể nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự;

+ Quy định về điểu kiện phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân;

+ Quy định về phạm vi các tội phạm cụ thể mà pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm đó; và

+ Quy định về hình phạt và các biện pháp phi hình phạt có thể áp dụng cho pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự.

Với các nội dung cần được quy định trên đây, có thể rút ra yêu cầu về kỹ thuật quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân như sau:

Thứ nhất, việc bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân có thể được thực hiện trong Phần chung của BLHS như BLHS của Pháp, của Hà Lan, của Thụy Sỹ nhưng không nhất thiết phải như vậy. Do việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân không làm thay đổi các quy định đã có trong Phần chung của BLHS cũng như các dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung của các tội cụ thể trong Phần riêng của BLHS nên việc quy định này có thể được thực hiện trong luật độc lập với BLHS như trong Luật trách nhiệm của đơn vị của Áo hoặc trong các luật hình sự phụ của Nhật Bản.

Thứ hai, việc bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân phải đảm bảo được tính thống nhất trong kỹ thuật quy định giữa các nội dung đã được quy định và các nội dung được bổ sung. Kỹ thuật sử dụng từ ngữ và diễn đạt không được đồng nhất hai chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự để tránh việc hiểu có hai loại tội phạm - tội phạm do thể nhân và tội phạm do pháp nhân thực hiện.

Từ các yêu cầu về nội dung và kỹ thuật quy định trên có thể có phương án “cơ bản” và phương án “đẩy đủ” trong quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Trong đó, phương án “cơ bản” được hiểu là phương án đưa ra được những quy định chung tối thiểu để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân về các tội phạm khác nhau, đó là các quy định sau:

- Thứ nhất: Quy định về phạm vi các loại hình tổ chức được coi là “pháp nhân” - chủ thể của trách nhiệm hình sự.

-Thứ hai: Quy định về phạm vi các tội mà pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự vể các tội đó hoặc quy định pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tất cả các tội đã được luật hình sự quy định.

Thứ ba: Quy định về điều kiện pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự.

Thứ tư: Quy định vể hình phạt có thể áp dụng cho pháp nhân.

Theo phương án đầy đủ, ngoài các quy định trên cần bổ sung một số quy định có tính giải thích hoặc hỗ trợ cho người áp dụng, đó có thể là:

- Thứ nhất: Quy định làm rõ nội dung các hình phạt, các biện pháp hình sự phi hình phạt có thể áp dụng cho pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự.

Thứ hai: Quy định về quyết định hình phạt, về miễn trách nhiệm hình sự, về miễn, giảm hình phạt đối với pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự...

-Thứ ba: Quy định các khung hình phạt cho pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự ở từng tội cụ thể tương ứng với các khung hình phạt cho người phạm tội.

Ngoài hai phương án có tính lý thuyết trên, thực tiễn lập pháp còn gặp trường hợp có tính đặc biệt như trường hợp pháp luật hình sự không có các quy định chung mà chỉ có quy định xác định trực tiếp trách nhiệm hình sự của pháp nhân về tội phạm cụ thể nào đó. Ví dụ: Trong pháp luật hình sự Nhật Bản, BLHS không có quy định chung về trách nhiệm hình sự của pháp nhân nhưng pháp nhân vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm nhất định vì trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tội này được quy định trực tiếp trong luật chuyên ngành (luật hình sự phụ). Điểu này cũng tương tự như trường hợp Luật Hải quan của Trung Quổc quy định trực tiếp trách nhiệm hình sự của pháp nhân khi BLHS của quốc gia này chưa quy định trách nhiệm hình sự của chủ thể này.

Tóm lại, xét về bản chất, quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự là quy định các nội dung cần thiết để có thể buộc pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà cá nhân đã thực hiện. Theo đó, nội dung quan trọng nhất phải được quy định là điểu kiện phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân không phải là quy định loại tội phạm thứ hai. Do vậy, không cần có 2 hệ thống quy định khác nhau - các quy định về tội phạm do cá nhân/thể nhân thực hiện và các quy định về tội phạm do pháp nhân thực hiện.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & tổng hợp từ các nguồn trên internet)