B là vợ của A và con là C . A có cha là D (còn sống) và mẹ là E (chết không có tài sản). Nay A chết, B không có tài sản, D bỏ địa phương đi cũng không để lại tài sản. Luật sư cho cháu hỏi:  Khi xét xử Z thì nghĩa vụ bồi thường cho Y là ai?  Tư cách tham gi tố tụng của từng người?

Cháu xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê

Trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc tới công ty Luật Minh Khuê chúng tôi. Với những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau

Căn cứ pháp lý

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Bộ luật tố tụng hình sự 2003

Nội dung tư vấn

Bộ luật hình sự quy định về dấu hiệu cũng như khung hình phạt cho tội cướp giật tài sản như sau:

Điều 136. Tội cướp giật tài sản

"1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

....................................

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng."

Trong trường hợp này, A và Z cùng là người thực hiện hành vi phạm tội nên cả hai đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, theo thông tin từ bạn thì A đã chết nên Z sẽ là người phải chịu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại cho Y (nếu có). Việc bố hay vợ của A trong trường hợp này có tài sản hay không có tài sản không liên quan tới việc bồi thường thiệt hại cho Y. Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự thì nếu hậu quả của việc cướp giật tài sản chỉ là người bị hại mất đi số tiền 3.000.000 mà không có bất kỳ tổn hại nào về sức khỏe, tính mạng thì Z sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt từ một năm đến năm năm tù. Ngoài ra, Z còn có thể chịu thâm hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 136 Bộ luật hình sự.

Về tư cách tham gia tố tụng thì trong trường hợp này, vợ và bố của A không liên quan đến vụ án nên chỉ xét tư cách tham gia tố tụng của Z. Điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định như sau: 

Điều 34. Bị can, bị cáo.
"1. Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự.
    Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử"

Như vậy, nếu vụ án chỉ mới được khởi tố và chưa có quyết định xét xử thì tư cách tố tụng của Z sẽ là bị can. Còn nếu vụ án đã có quyết định đưa ra xét xử thì tư cách tố tụng cảu Z sẽ là bị cáo.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi dành cho quý khách hàng, ý kiến tư vấn dựa trên những quy định của pháp luật và thông tin mà khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra sự tư vấn là để cá nhân, tổ chức tham khảo. Nếu còn vấn đề thắc mắc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900.6162 để được tư vấn pháp luật trực tiếp.

TRÂN TRỌNG./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ.