Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự năm 2015

2. Nội dung phân tích

Chào luật sư. Mình có một câu hỏi thắc mắc muốn luật sư giải đáp dùm. Câu hỏi là thế này: Có phải lực lượng công an 141 là lực lượng bí mật không? Và nếu một người là 141 khi thông tin anh/chị đó là 141 bị người khác biết điều đó có, ảnh huỏng gì không? Mong luật sư giải đáp..

 Lực lượng 141 bao gồm: Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động và Cảnh sát hình sự đã được Công an thành phố Hà Nội lập ra vào cuối năm 2011 để đấu tranh, trấn áp tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Lực lượng này có nhiệm vụ kiểm tra, xử lý người điều khiển mô tô, xe máy vi phạm Luật Giao thông đường bộ, mang theo vũ khí khi tham gia giao thông; kiểm tra các phương tiện giao thông khả nghi tàng trữ vũ khí, ma túy và các tài sản nghi do phạm tội mà có.

Lực lượng này được trang bị công cụ hỗ trợ, sử dụng biện pháp công khai kết hợp hóa trang để kiểm tra, xử lý các đối tượng nghi vấn, vi phạm tại các tuyến phố, nút giao thông trọng điểm trên địa bàn thành phố.

Các tổ công tác hoạt động theo phương thức cắm chốt tập trung ở một khu vực, hỗ trợ nhau khi cần thiết; sử dụng biện pháp công khai kết hợp hóa trang để phát hiện, kiểm tra, xử lý theo nguyên tắc: lực lượng hóa trang (mặc thường phục) tuần tra trên các tuyến phố nếu phát hiện có trường hợp vi phạm Luật Giao thông đường bộ hoặc đối tượng nghi vấn có dấu hiệu phạm tội thì sử dụng bộ đàm thông báo cho lực lượng công khai triển khai đội hình dừng phương tiện để kiểm tra, xử lý.

Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện đối tượng tàng trữ vũ khí, dao kiếm, ma túy…hoặc có dấu hiệu phạm tội thì lực lượng làm nhiệm vụ sẽ khống chế, áp giải đối tượng và đưa phương tiện, tang vật về trụ sở Phòng Cảnh sát hình sự để phân loại, khai thác, xác minh, lập hồ sơ xử lý.

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?

Thưa luật sự cho tôi hỏi. Có ý kiến cho rằng tình hình tội phạm do người chưa thành niên gây ra hiện nay có xu hướng gia tăng nguyên nhân là do hình phạt áp dụng cho nhóm đối tượng này chưa đủ tính răn đe. Đúng hay sai vì sao xin luật sư chỉ giúp ạ ?

Vấn đề tình hình phạm tội của lứa tuổi chưa thành niên đã được đề cập rất nhiều trong nhiều cuộc trao đổi và cũng luôn là một đề tài nóng trong giới Luật gia. Có rất nhiều nguyên nhân dãn đến sự gia tăng của loại tội phạm này trong xã hội trong đó, có thể kể đến một số nguyên nhân đã được các chuyên gia tổng hợp như sau:

Nguyên nhân thuộc về chính người chưa thành niên: Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi người chưa thành niên đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện về thể chất và tinh thần nên phần lớn, họ chưa tự làm chủ được bản thân nên dễ bị lôi kéo, kích động tham gia vào những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật. Với đặc điểm tâm lý lứa tuổi ở giai đoạn này, khả năng phân biệt và nhận thức đúng, sai, hợp lý và không hợp lý với lứa tuổi của người chưa thành niên còn rất hạn chế, hơn nữa nhu cầu học theo, bắt chước theo những gì các em thấy thông qua bạn bè và các phương tiện thông tin khiến cho hành vi và nhận thức của thanh thiếu niên càng khó kiểm soát. Khi đó, nếu thiếu đi sự định hướng, uốn nắn kịp thời từ gia đình và nhà trường thì nguy cơ phạm tội sẽ càng trở nên rõ rệt. Đây có thể nói là một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng vi phạm pháp luật nói chung, phạm tội cướp tài sản nói riêng của người chưa thành niên.

Nguyên nhân xuất phát từ gia đình: Trong những năm qua, vấn đề giáo dục con cái trong nhiều gia đình chưa thật sự được chú trọng. Do tập trung thời gian cho việc lo cuộc sống, rất nhiều gia đình gần như giao việc giáo dục con cái cho nhà trường. Một bộ phận gia đình kinh tế khó khăn thì quan niệm chỉ cần học biết chữ, biết đếm, sau đó bỏ học đi làm kinh tế. Hầu hết các em học sinh hư, học kém… đều rơi vào gia đình hoàn cảnh khó khăn hoặc éo le như bố mẹ ly hôn, ly thân… Mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường còn lỏng lẻo dẫn đến con bỏ học, chơi bời hư hỏng mà bố mẹ không biết, không quan tâm đến việc học tập của con cái. Thiếu sự kèm cặp, giáo dục của gia đình cho nên các em quen với lối sống tự do, buông thả, dễ tiếp thu những mặt trái, từ đó các em dễ đi vào con đường phạm tội. Mặt khác, một số ít gia đình do chỉ có một con nên đã nuông chiều con quá mức, tạo cho trẻ lối sống thích gì được nấy dẫn đến có những nhu cầu vượt quá khả năng của gia đình và khi không đáp ứng được nhu cầu dẫn đến có những hành vi vi phạm pháp luật.

Nguyên nhân xuất phát từ môi trường giáo dục ở nhà trường: Nhà trường là một môi trường giáo dục quan trọng để giúp cho các em ở lứa tuổi vị thành niên hình thành nhân cách, định hướng cho các em trong cuộc sống sau này. Nếu không được giáo dục một cách toàn diện, lại sớm phải va chạm với thực tế cuộc sống khó khăn, dễ dẫn các em vào con đường phạm tội. Mặt khác, trong những năm vừa qua, nhà trường chỉ chú trọng đến công tác giảng dạy kiến thức cơ bản về văn hóa, khoa học, kỹ thuật; việc giáo dục nhân cách cho các em chưa thực sự được quan tâm. Trong mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường vẫn còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong quản lý, giáo dục học sinh. Bên cạnh đó, trong học đường còn có một số tiêu cực, chính những tiêu cực này đã hình thành trong tâm hồn các em những nhận thức sai lệch về chuẩn mực xã hội, dẫn đến sự chán đời, lười học và bỏ học, từ đó nảy sinh tình trạng tụ tập, đàn đúm thực hiện hành vi phạm pháp.

Nguyên nhân xuất phát từ môi trường xã hội: Môi trường xã hội có tác động sâu sắc đến quá trình hình thành nhân cách của mỗi cá nhân và không thể tách rời sự phát triển của cá nhân với xã hội. Trong thời gian qua, xã hội đã có những biến động do tác động của kinh tế thị trường kéo theo sự thay đổi của các mặt đời sống xã hội như: sự du nhập của văn hóa, công nghệ từ môi trường vào một cách ồ ạt. Trong khi đó, một bộ phận dân cư mà đa số là thanh thiếu niên không được trang bị những kiến thức, hiểu biết để đề kháng với những thay đổi của đời sống xã hội đã bị tác động bởi các tiêu cực xã hội, hình thành lối sống thực dụng, hưởng thụ. Sự quan tâm của xã hội, nhà trường và gia đình đối với người chưa thành niên không đủ để trang bị cho họ những hiểu biết, uốn nắn trước những sai trái, lâu dần hình thành động cơ phạm tội.

Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, văn hóa, đạo đức, lối sống trong quần chúng nhân dân nhất là thanh thiếu niên chưa được coi trọng đúng mức, còn thiếu cả về bề rộng và chiều sâu. Do vậy, việc nắm vững pháp luật và thực hiện pháp luật còn hạn chế, nhiều người chưa nhận thức đầy đủ về tội phạm, tính nguy hiểm của mình do không hiểu biết pháp luật. Một bộ phận không nhỏ đối tượng là người chưa thành niên khi thực hiện hành vi mà không biết rằng đó là hành vi phạm tội.

Công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự còn nhiều yếu kém, bất cập, thiếu toàn diện, sâu sát như quản lý đối tượng tại cộng đồng dân cư, quản lý nhân, hộ khẩu, quản lý tạm trú, tạm vắng, có nhiều trường hợp đối tượng đi khỏi địa phương nhiều tháng đến khi có thông báo về việc bắt đối tượng phạm tội của Công an địa phương khác thì chính quyền địa phương mới nắm được việc đi khỏi địa phương của đối tượng, đây chính là một trong những sơ hở làm tội phạm nảy sinh, tồn tại và phát triển.

Các hoạt động phòng ngừa riêng của các lực lực lượng chuyên trách còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao. Các hoạt động quản lý đối tượng có điều kiện khả năng phạm tội còn chưa chặt chẽ, thiếu tính hệ thống và thiếu thông tin giữa các địa bàn. Các hoạt động nghiệp vụ trinh sát trong ngăn chặn, phát hiện người chưa thành niên phạm tội còn gặp nhiều khó khăn do một phần hạn chế của cán bộ làm công tác này.

Theo đó, Về khía cạnh pháp lý, ý kiến cho rằng một trong những nguyên nhân góp phần không nhỏ vào sự gia tăng tội phạm trong lứa tuổi này là do hình phạt áp dụng không đủ sức răn đe cũng có phần hợp lý. Tuy nhiên, Pháp luật ngoài việc là công cụ nhà nước sử dụng để quản lý xã hội cũng là công cụ mang tính giáo dục cao, theo đó tính nhân văn trong quy định pháp luật cũng luôn được thể hiện rõ. Vì vậy không thể khẳng định tình hình tội phạm do người chưa thành niên gây ra hiện nay có xu hướng gia tăng nguyên nhân là do hình phạt áp dụng cho nhóm đối tượng này chưa đủ tính răn đe.

Kính chào Luật sư! Cho tôi được hỏi: Tôi có đứng đơn khởi kiện một vụ án, được xác định là người liên quan trong vụ án, tại phiên toà thì tôi xin rút yêu cầu của mình và bản án cũng đã đình chỉ yêu cầu của tôi nhưng bản án vẫn buộc tôi đóng án phí. Theo tôi tìm hiểu thì khi rút yêu cầu thì tôi không phải chịu tiền án phí, tôi đến toà hỏi thì được giải thích là do tôi rút đơn tại phiên toà nên vẫn phải chịu án phí, nếu rút trước khi mở phiên toà thì không phải chịu, bản án quyết định tôi chịu án phí như vậy có đúng không? Cảm ơn Luật sư!

Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định như sau:

>> Xem thêm:  Thiếu trách nhiệm để người bị giam giữ trốn thì xử lý như thế nào?

" Điều 218. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.

3. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.

4. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm."

Như vậy, căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của bạn được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 thì tiền tạm ứng được trả lại cho bạn

Xin được giúp !!! Anh A đến cơ quan thấy B đột nhập vào đang lấy 1 máy tính xách tay thì hô hoán,đồng thời đuổi bắt. Tuy nhiên do mới sáng sớm nên không ai kịp hỗ trợ,B đã nhảy qua cửa sau chạy thoát. Buổi trưa hôm đó,trong lúc đi ăn cơm tại quán,A phát hiện được B đang ăn cơm ở đây nên hô hoán và cùng với những khách ăn tại quán kết hợp bắt giữ B 1. Trường hợp này có phải là bắt quả tang hay không? Việc bắt giữ có đúng pháp luật ? A/C hãy đưa cách xử lý đúng cho anh A 2. Phân tích yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật có trong tình huống trên ?

Điều 82 BLTTHS năm 2003 quy định như sau:

Điều 82. Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt."

>> Xem thêm:  Một số vấn đề về định tội danh trong pháp luật hình sự ?

Như vậy, B bị bắt quả tang và việc bắt giữ người của A là đúng quy định pháp luật nếu đảm bảo quy định tại điều 83 BLTTHS sau:

Điều 83. Những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt

1. Sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.

2. Đối với người bị truy nã thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã để đến nhận người bị bắt.

Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã. Trong trường hợp xét thấy cơ quan đã ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết.

Sau khi nhận được thông báo, cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn cho Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Sau khi nhận được lệnh tạm giam, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt có trách nhiệm giải ngay người đó đến trại tạm giam nơi gần nhất."

Hành vi của B đã cấu thành tội trộm cắp quy định tại Điều 138 BLHS như sau:

Điều 138. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọnghoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

>> Xem thêm:  Người bị phạt án tù treo không tố giác tội phạm về ma tuý có bị gọi nhập ngũ không ?

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

>> Xem thêm:  Có quan hệ với bạn gái sinh năm 2001 và đã có thai 1 tháng tuổi, gia đình bạn gái khởi kiện có bị truy tố trách nhiệm hình sự ?

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng   để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vô ý để cửa mở ?

>> Xem thêm:  Con đã trưởng thành vay tiền thì cha mẹ có phải trả tiền họ con hay không?