Trách nhiệm hữu hạn là trách nhiệm tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp, theo đó chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp; bản thân doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước các nghĩa vụ của mình đến hết giá trị tài sản có trong doanh nghiệp.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chế độ trách nhiệm hữu hạn được áp dụng cho chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thành viên góp vốn trong công ti hợp danh.

Chế độ trách nhiệm hữu hạn giúp nhà đầu tư hạn chế rủi ro trong kinh doanh nhưng dễ gây rủi ro cho bạn hàng của doanh nghiệp.

Phân tích quy định trách nhiệm hữu hạn tài sản:

Trách nhiệm hữu hạn là trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp, theo đó chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn góp vào doanh nghiệp; bản thân doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước nghĩa vụ của mình đến hết giá trị tài sản có trong doanh nghiệp (Khoản 1 Điều 183 và điểm b, c khoản 1 Điều 172 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (hiện nay đang áp dụng luật doanh nghiệp năm 2020); Điều 103 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Chế độ TNHH cần được nhìn nhận ở hai khía cạnh:

Ở khía cạnh thứ nhất, chính bản thân thương nhân (doanh nghiệp) chịu TNHH, thương nhân chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn thuộc sở hữu của mình. Ví dụ: Công ty TNHH A, có số vốn điều lệ là 10 tỉ đồng (vốn này do các thành viên B góp 3 tỉ đồng, c góp 4 tỉ đồng, D góp 3 tỉ đồng), do kinh doanh thua lỗ công ty nợ các chủ nợ là 15 tỉ đồng. Xử lý khoản nợ 15 tỉ đồng này, với chế độ TNHH, công ty phải dùng toàn bộ tài sản có của mình (bao gồm cả số vốn điều lệ) để thanh toán khoản nợ 15 tỉ đồng trên, hết số tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, khoản nợ 15 tỉ đồng các chủ nợ coi như được thanh toán xong.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, các thương nhân được hưởng quy chế TNHH gồm: (i) Công ty TNHH; (ii) Công ty cổ phần; (iii) hợp tác xã và (iv) doanh nghiệp nhà nước.

Ở khỉa cạnh thứ hai, chủ sở hữu (hay thành viên) của doanh nghiệp (thương nhân) chịu TNHH, có nghĩa họ chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn mà các thành viên đầu tư vào công ty. Cũng theo ví dụ trên, cho dù công ty TNHH A có khoản nợ phải xử lý là 15 tỉ đồng, nhưng vì các thành viên của công ty này (B, c, D) được hưởng quy chế TNHH cho nên họ chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp vào công ty TNHH A, cụ thể: B chịu trách nhiệm trong phạm vi 3 tỉ đồng; c chịu trách nhiệm trong phạm vi 4 tỉ đồng và D chịu trách nhiệm trong phạm vi 3 tỉ đồng.

>> Xem thêm:  Quy định mới về tổ chức, quản lý của Công ty trách nhiệm hữu hạn ?

Pháp luật hiện hành quy định, các chủ sở hữu (thành viên) của doanh nghiệp (thương nhân) phải chịu TNHH gồm:

- Thành viên công ty TNHH;

- Cổ đông Công ty cổ phần;

- Thành viên góp vốn vào công ty hợp danh;

- Thành viên hợp tác xã và đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước .

Chế độ TNHH có ưu thế nhất định đối với thương nhân, đó là hạn chế được rủi ro cho chủ sở hữu doanh nghiệp (thương nhân). Trong trường hợp thương nhân kinh doanh thua lỗ, chủ sở hữu doanh nghiệp (thương nhân) chỉ mất phần vốn đầu tư vào kinh doanh, còn tài sản không đầu tư vào kinh doanh thì không phải đưa ra để thanh toán các nghĩa vụ tài chính, các khoản nợ của thương nhân. Điều đó tạo điều kiện cho cảc nhà đầu tư an tâm bỏ vốn đầu tư kinh doanh.

Tuy nhiên, chế độ TNHH cũng có hạn chế, khi tham gia các quan hệ tín dụng, thương nhân chỉ có thể dùng tài sản kinh doanh (trong phạm vi vốn điều lệ của thương nhân) để làm tài sản đảm bảo khi vay vốn, do đó khả năng vay vốn sẽ bị hạn chế hơn so với khả năng vay vốn của các thương nhân chịu trách nhiệm vô hạn.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Mẫu Điều lệ Công ty TNHH Một thành viên mới nhất năm 2021