1. Tranh chấp đất đai có bắt buộc thông qua thủ tục hòa giải tại UBND xã, phường ?

Chào Luật sư, Xin hỏi: Đất này đã được bố tôi mua vào năm 2013 bằng giấy tờ viết tay với chủ đất. Nhưng chưa từng làm sổ đỏ, hiện nay có một người mới đến đây được 5 năm có tranh chấp đất với nhà tôi. Họ đã được cấp sổ đỏ đất vào năm 2019. Gia đình nhà tôi gửi đơn đến tòa án yêu cầu đòi đất nhưng bị trả đơn và yêu cầu về xã giải quyết trước. Tôi muốn hỏi TA trả lời như vậy có đúng không ? Hay họ đang làm khó chúng tôi, vì xã có anh, em nhà người này. ?
Tôi cảm ơn!

Tranh chấp đất đai có bắt buộc thông qua thủ tục hòa giải tại UBND xã, phường ?

Trả lời

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Khỏan 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP quy định:

Điều 3. Về chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật quy định tại điểm b khỏan 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

...

2. Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khỏan 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.

Dẫn chiếu đến Điều 202 Luật đất đai năm 2013 quy định về hòa giải tranh chấp đất đai như sau:

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Theo quy định như trên, trong tranh chấp đất đai ai là người có quyền sử dụng đất, đương sự phải gửi đơn đến Ủy ban Nhân dân cấp xã để yêu cầu hòa giải ( đây là thủ tục bắt buộc ). Khi Uỷ ban Nhân dân cấp xã hòa giải không thành thì đương sự mới tiến hành lựa chọn nộp đơn khởi kiện để giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất.

Trường hợp của bạn là đang tranh chấp về ai là người sử dụng đất nên bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất. Nếu chưa thông qua thủ tục này thì sẽ bị trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm b khỏan 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

Điều 192. Trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện.

1. Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:

..

b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến bạn chưa hiểu hết vấn đề hoặc và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Tranh chấp đất đai đã có biên bản hòa giải và sự đồng ý của các bên có được khiếu kiện không ?

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Khởi kiện tranh chấp đất đai phân chia như thế nào ?

Chào luật sư, Mong luật sư tư vấn cho truờng hợp của tôi như sau: ba mẹ tôi có 11 người con, trong đó 1 em trai út bị bệnh tâm thần. Tôi sống chung với ba mẹ tôi và nuôi em trai út đó. Còn những anh chị em khác đã ra riêng và cất nhà riêng trên đất mà ba tôi làm chủ sổ đỏ. Nay ba mẹ tôi mất đã ba năm, các anh chị em đòi tách sổ đỏ. Nhưng các bên không thuơng luợng được phần ranh nhà, ai cũng đòi nhiều hơn. Miếng đất có tổng diện tích là 1000m2, trong đó nền nhà của ba mẹ tôi là 76 m2, phần nền mộ của ba mẹ là 40m2.
Vậy nếu chúng tôi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền được không hay bắt buộc phải tiến hành hòa giải tại UBND xã trước?
Xin cảm ơn.
- Truong Kieu

Trả lời:

Theo quy định tại Luật Đất đai 2013 thì tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

(1) Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

(2) Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

- Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

- Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

Tuy nhiên, Tại Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP có quy định đối với các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất sau đây thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án:

- Tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất;

- Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất;

- Tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất…

Như vậy, đối với trường hợp bạn có phát sinh tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất mà cha tôi mất đi để lại cho hai anh em thì bạn có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án nhân dân để được giải quyết theo thẩm quyền mà không cần phải yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tổ chức hòa giải.

>> Luật sư trả lời: Tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND phường được thực hiện như thế nào

>> Xem thêm:  Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ? Thủ tục mua bán, tách sổ của lô đất ?

3. Giải quyết tranh chấp đất đai giữa anh chị em trong gia đình?

Xin luật sư vui lòng cho tôi hỏi sự việc như sau: Mẹ tôi có miếng đất (mang tên mẹ tôi) đã làm thủ tục tặng cho tôi tại Văn phòng Công Chứng, nhưng tôi chưa sang tên QSDĐ sang tên tôi và không có chữ ký của anh và chị tôi vì sổ hộ khẩu chỉ có tôi và mẹ tôi.
Anh chị tôi ở xa, tôi nuôi dưỡng mẹ 20 năm qua, anh chị tôi không hề phụ giúp gì. Và theo thỏa thuận miệng, ý nguyện của mẹ tôi thì tôi phải chịu trách nhiệm đưa lại cho anh chị tôi 120 triệu. Nhưng khi tôi giao tiền thì anh chị tôi nhận tiền nhưng lại không chịu ký tên cam kết không tranh chấp và đồng thời cũng không cho mẹ tôi ký đã nhận tiền của tôi. Vậy xin hỏi trường hợp của tôi phải làm thế nào? Liệu tôi giao tiền xong, sau này họ có tranh chấp với tôi được không?
Xin cảm ơn!

Giải quyết tranh chấp đất đai giữa anh chị em trong gia đình?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Bạn thân mến, trước hết vấn đề hộ khẩu thường trú có bạn và mẹ bạn, việc này không ảnh hưởng đến việc chia tài sản việc đăng ký tên trong sổ hộ khẩu chỉ có ý nghĩa trong việc quản lý về mặt hành chính.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì mẹ bạn đã làm thủ tục tặng cho miếng đất và đã Công Chứng. Căn cứ theo Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định như sau;

Điều 457. Hợp đồng tặng cho tài sản

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.

Theo như quy định trên thì khi mẹ tặng cho quyền sử dụng đất không có đơn khiếu nại hay đơn kiện, yêu cầu nào của các bên cho và nhận, sự thỏa thuận này được coi là hợp pháp.

Điều 459. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản

Như vậy, miếng đất đó được xác nhận tặng cho đúng pháp luật, quyền sử dụng đất đã chuyển từ mẹ sang bạn hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất phải được thực hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, phải đăng ký quyền sở hữu. Trường hợp đã tặng cho hoàn tất, việc chuyển quyền sở hữu đã xong thì tài sản đã thuộc về người được tặng cho.

Tại Điều 462 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về tặng cho tài sản có điều kiện như sau:

Điều 462. Tặng cho tài sản có điều kiện

1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì việc các bên có thỏa thuận miệng về việc bạn phải chịu trách nhiệm đưa lại cho anh chị bạn 120 triệu thỏa thuận này không được lập thành văn bản nên đây không thể coi là điều kiện của hợp đồng tặng cho được. Vì vậy, khi bạn hay anh chị bạn vi phạm thỏa thuận này thì cũng không có căn cứ để đòi lại tài sản đã tặng cho. Vì vậy, bạn và mẹ nên lập thành văn bản có chữ ký của bên tặng cho và bên nhận.

Sau khi có hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được công chứng/chứng thực thì bạn có thể tiến hành thủ tục đăng ký sang tên bạn tại văn phòng đăng ký đất đai, hồ sơ bao gồm:

+ Đơn đăng ký biến động

+ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

+ Giấy tờ khác, như chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu...

Vậy khi giao tiền xong, anh chị bạn và bạn có xảy ra tranh chấp thì cũng không thể đòi lại tài sản là mảnh đất đã được mẹ bạn tặng cho.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo ngay: Lấn chiếm đất đất trồng lúa bị xử phạt bao nhiêu và biện pháp khắc phục hậu quả là gì ?

4. Thời gian giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án

Xin chào luật sư. . Tôi có khởi kiện việc tranh chấp đất đai ra tòa. Tôi có mua lô đất có đầy đủ pháp lý có sổ quyền sử dụng đất. Trên lô đất Tôi mua có người em ruột người bán ở. Người bán xin cho người em thời gian sắp xếp để chuyển đi. Khi đến thời hạn người em không chịu dời. Và Người bán cho tôi nói với tôi là đã bán cho người em rồi , đòi trả tiền lại cho tôi nhưng tôi không chịu, tôi có khởi đơn khởi tại tòa án nay được ba năm rưởi mà chưa được tòa giải quyết. Vậy cho tôi hỏi thời gian xét xử là bao lâu ạ?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 203 và khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Điều 203 Thời hạn chuẩn bị xét xử

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

4. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

Như vậy, nếu bạn đã gửi đơn đến tòa án mà hơn 3 năm nay rồi bạn chưa được giải quyết thì bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi trực tiếp đến tòa án bạn đã gửi đơn yêu cầu giải quyết.

Xin chân thành cảm ơn.

5. Xin tư vấn tranh chấp đất đai và việc cấp sổ đỏ ?

Xin chào Luật Sư, hiện tại em đang ở tỉnh B. Bên kiện em có mua 1 miếng đất sát hàng rào nhà em, sổ đỏ được cấp trước năm 30/7/2013 và tới tháng 6/2014 cán bộ địa chính mới đi đo cho có lệ, và 1 tháng sau em bị kiện là lấn đất của họ, giải hoà trên ấp, họ thao phái người kiện, cán bộ đi đo đất hôm đó cũng chối là không biết gì; Đến giải hoà ở xã cũng vậy, cán bộ nói đất có sổ đỏ rồi không thuộc thẩm quyền của xã nữa, và giờ thì đơn triệu tập em đã đến toà án nhân dân huyện, tới chỉ đưa tờ giấy viết vào đó về miếng đất của mình rồi nộp lại, còn không hỏi và trình bày được gì, em cũng không biết làm sao?
Hàng rào nhà em xây năm 2000 và sau 1 năm bà em mất, thì sang tên miếng đất đó qua cho cậu em và năm 2017 cậu em bán cho người này và xảy ra tranh chấp. Theo em được biết thì huyện này đang có 1 kiểu vẽ nở hậu miếng đất, để đi kiện, Và sổ đỏ được cấp cho người mua trước, mấy tháng sau mới đi kí giáp ranh. Người chung quanh miếng đất đó không biết là sổ đỏ cấp rồi, cán bộ đó chỉ là cái cớ cho có, đụng chuyện là phủi tay không biết ?
Em xin cám ơn Luật Sư!

Trả lời:

Dựa vào những thông tin bạn cung cấp có thể hiểu là bạn đang bị kiện vì lấn chiếm đất nhà bên cạnh chính là mảnh đất nhà bạn trước kia. Và mảnh đất đó bị coi là đất của xã và chưa có sổ đỏ. Người kiện bạn là một người theo bạn nói là người do xã cử để kiện bạn về việc lấn chiếm đất.

Về việc đo đạc đất của xã: giả sử bạn lấn đất thì:

Khi đo đạc nếu xã phát hiện ra hành vi lấn đất của bạn thì xã phải đưa vụ việc này lên huyện để xử phạt hành chính đối với gia đình bạn chứ không phải cử người đi kiện. Theo quy định tại Nghị định số 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai như sau:

4. Trường hợp lấn, chiếm đất phi nông nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này tại khu vực nông thôn thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta;

b) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;

c) Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;

d) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta;

đ) Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 01 héc ta trở lên.

..................

7. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với các hành vi vi phạm tại các khoản 1, 2, 3, 4 và khoản 5 của Điều này và buộc trả lại đất đã lấn, chiếm; trừ trường hợp trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này;

b) Buộc đăng ký đất đai theo quy định đối với trường hợp có đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 22 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP;

c) Buộc thực hiện tiếp thủ tục giao đất, thuê đất theo quy định đối với trường hợp sử dụng đất khi chưa thực hiện xong thủ tục giao đất, thuê đất;

d) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này; số lợi bất hợp pháp được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định này.

Và thẩm quyền xử phạt hành chính thuộc Chủ tịch UBND cấp huyện theo Nghị định 91/2019/NĐ-CP như sau:

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng;

c) Tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung; giấy tờ giả đã sử dụng trong việc sử dụng đất;

d) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai có thời hạn;

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định này.

Nhưng thực tế thì khoảng một tháng sau thì có người kiện bạn về việc lấn chiếm đất mà cán bộ đo đạc mảnh đất nhà bạn lại không biết gì về việc bạn lấn chiếm đất nên có thể thấy có người muốn gây sự tranh chấp đất với gia đình bạn chứ không phải xã cử người kiện bạn về việc lấn chiếm đất. Việc đưa vụ việc tranh chấp của xã ra tòa án cũng đúng quy định vì theo khoản 1 điều 203 Luật đất đai 2013:

"Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;"

Việc bạn đến tòa và được đưa tờ giấy viết vào đó về miếng đất của mình rồi nộp lại chỉ là thủ tục triệu tập đương sự đến tòa án để thu thập chứng cứ và các tài liệu có liên quan.

Khi bị kiện thì bạn có quyền đưa ra chứng cứ là giấy tờ về quyền sử dụng đất của mình và bạn cần liên hệ với người đã mua đất bên cạnh nhà bạn để tham gia vụ án vì đất bên đó đã có sổ đỏ để bảo vệ quyền lợi cho mình.

>> Tham khảo: Tư vấn thủ tục cấp sổ đỏ khi có tranh chấp với hàng xóm?

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai về tài sản thừa kế, gọi: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Xử lý tranh chấp quyền sở hữu nhà ở ?