Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê

Tranh chấp quyền sử dụng đất

Luật sư tư vấn luật đất đai Gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

Luật đất đai năm 2013

Nghị định 43/2014/NĐ-CP nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai

>> Xem thêm:  Điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng ? Khi nào di chúc miệng có hiệu lực ? Cách lập di chúc miêng

2. Nội dung phân tích:

Thứ nhất: sở hữu của tổ chức có phải là sở hữu của tập thể hay không?

Điều 208 Bộ luật dân sự quy định về sở hữu tập thể như sau: 

" Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi."

Tổ chức xã hội gồm: các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức tự quản, các hội tự quản. Mục đích thành lập không phải vì lợi nhuận mà vì lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng. Sở hữu của tổ chức là sở hữu của một pháp nhân.

Chính vì vậy mà sở hữu của tổ chức không phải sở hữu của tập thể.

Thứ hai: Đối tượng và phương tiện trong tranh chấp quyền sử dụng đất? Trách nhiệm thuộc về ai?

Tranh chấp quyền sử dụng đất là tranh chấp nhằm xác định ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp. Cho nên đối tượng của tranh chấp quyền sử dụng đất chính là quyền sử dụng đất hợp pháp.

Căn cứ Điều 203 Luật đất đai năm 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

>> Xem thêm:  Phải làm gì khi hàng xóm mượn sân chung để kinh doanh đồ ăn sáng, gây ồn ào, bần thỉu ?

"1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Như vậy, nếu các bên tranh chấp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì trách nhiệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đât thuộc về tòa án nhân dân, nếu các bên tranh chấp không có giấy chứng nhaanjq uyền sử dụng đất thì trách nhiệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc về chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc tòa án nhân dân.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới nhất năm 2020

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật dân sự. 

>> Xem thêm:  Tranh chấp quyền sử dụng đất được giải quyết như thế nào ?