1. Trình tự, thủ tục giải quyết việc ly hôn?

Kính chào quý khách hàng, thời gian vừa qua luật Minh Khuê đã nhận được nhiều sự tin tưởng, uy thác của quý khách hàng trên cả nước cũng như nước ngoài về các vấn đề hôn nhân gia đình, trong đó các câu hỏi liên quan đến trình tự, thủ tục giả quyết ly hôn tại tòa án được quan tâm hơn cả. Luật Minh Khuê tư vấn và giải đáp những vướng mắc cơ bản về vấn đề ly hôn theo quy định của pháp luật hiện nay:
- Văn bản pháp luật quy định về giải quyết thủ tục ly hôn:

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Luật hôn nhân gia đình năm 2014

1. Quyền ly hôn và căn cứ cho ly hôn

Thứ nhất: Về nguyên tắc vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên trường hợp vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.

Thứ hai: Tòa án xem xét, quyết định cho ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Tình trạng của vợ chồng trầm trọng;

b) Đời sống chung không thể kéo dài;

c) Mục đích của hôn nhân không đạt.

2. Thủ tục Ly hôn thuận tình và ly hôn đơn phương

2.1 Thủ tục ly hôn thuận tình

Ly hôn thuận tình là việc cả hai bên trong quan hệ hôn nhân (vợ-chồng) cùng thỏa thuận được với nhau về vấn đề chấm dứt quan hệ hôn nhân, chia tài sản chung, chăm sóc, nuôi dưỡng con cái (nếu có) . Trong trường hợp này, sau khi nhận được hồ sơ đề nghị của hai đương sự thì tòa án sẽ tiến hành giải quyết việc công nhận sự thuận tình ly hôn theo thủ tục công nhận một việc dân sự.(Điều 55 luật Hôn nhân gia đình 2014)

Điều kiện tiến hành thủ tục thuận tình ly hôn

i) Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn;

ii) Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;

iii) Sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.

Trường hợp các bên chỉ tranh chấp một trong các vấn đề về tài sản, nuôi con, tình cảm.. Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp theo thủ tục chung (xem tại mục 3).

Thủ tục thuận tình ly hôn

Bước 1: Quý khách nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND quận/huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng;

Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc Tòa án kiểm tra đơn và ra thông báo tiền tạm ứng án phí cho Quý khách;

Bước 3: Quý khách nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí Tòa án;

Bước 4: Trong thời hạn 15 ngày làm việc Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải.

Bước 5: Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành (không thay đổi quyết định về việc ly hôn) nếu các bên không thay đổi ý kiến Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

2.2. Thời gian giải quyết: Hiện nay pháp luật chưa quy định cụ thể thời hạn Tòa án phải giải quyết vụ việc (Khi có nhu cầu Quý khách có thể liên hệ với chúng tôi để được giải quyết nhanh chóng, thuận tiện).

2.3. Hồ sơ khởi kiện xin ly hôn gồm có: (Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện)

- Đơn yêu cầu thuận tình ly hôn (theo mẫu của từng Tòa);

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- Sổ hộ khẩu, CMTND (bản sao);

- Giấy khai sinh của con (bản sao - nếu có);

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao);

+ Thủ tục Ly hôn đơn phương

Ly hôn đơn phương ( ly hôn theo yêu cầu của một bên) là việc vợ hoặc chồng có yêu cầu ly hôn khi có căn cứ cho rằng bên còn lại đang vi phạm nghĩa vụ vợ/chồng với mình và(hoặc) hai bên chưa thỏa thuận được về vấn đề chia tài sản chung, nuôi con, cấp dưỡng cho con khi ly hôn.

Ví dụ: Chị A có yêu cầu ly hôn do anh B thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình với mình nhưng anh B không muốn ly hôn với chị A do vẫn còn tình cảm với vợ và không đòng ý việc phải chia tài sản, lúc này chị A phải làm thủ tục đơn phương ly hôn.

- Hồ sơ thực hiện thủ tục ly hôn:

+ Đơn xin ly hôn(theo mẫu của Tòa án ban hành hoặc theo mẫu đơn khởi kiện quy định tại mẫu số 23 phụ lục ban hành kèm theo nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP-TANDTC ) với trường hợp ly hôn đơn phương; hoặc mẫu đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn với trường hợp ly hôn thuận tình.

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Sổ hộ khẩu, Chứng minh nhân dân của vợ/chồng (bản sao chứng thực);

+ Bản sao có chứng thực giấy khai sinh của các con

+ Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao chứng thực).

+ Bằng chứng chứng minh quan hệ vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng.Ví dụ: xác nhận của UBND xã/phường về việc anh chị đã ly thân, có bạo lực gia đình, xúc phạm danh dự nhân phẩm, không chung thủy...

- Thẩm quyền giải quyết ly hôn:

Thẩm quyền giải quyết ly hôn đơn phương thuộc về tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn đang cư trú .

Thẩm quyền giải quyết ly hôn thuận tình thuộc về tòa án nhân dân cấp huyện nơi một trong hai bên đang cư trú.

Thẩm quyền giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc về tòa án nhân dân cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương nơi 1 trong hai bên sinh sống, làm việc tại Việt Nam. Ly hôn có yêu tố nước ngoài được hiểu là việc một trong hai bên( hoặc cả hai) là người nước ngoài, người Việt Nam đang cư trú, làm việc, học tập... tại nước ngoài.

Lưu ý:

- Nguyên đơn: Người khởi kiện

- Bị đơn: Người bị kiện

- Nơi cư trú: Nơi cá nhân có đăng ký thường trú hoặc tạm trú

- Tòa án nhân dân cấp huyện: Là TAND cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.

+ Thủ tục, quy trình giải quyết việc ly hôn:

- Các bước thực hiện thủ tục ly hôn thuận tình:

+ Nộp hồ sơ về việc xin thuận tình ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền

+ Tòa án kiểm tra đơn và ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ trong vòng 03 ngày làm việc;

+ Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

+ Sau khi tòa án nhận được đầy đủ hồ sơ, rong vòng 15 ngày, thẩm phán được phân công nhiệm vụ tiến hành mở phiên hòa giải, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành nếu các bên không thay đổi ý kiến thì Tòa án sẽ công nhận việc thuận tình ly hôn.

- Các bước thực hiện thủ tục ly hôn đơn phuơng:

+ Nộp hồ sơ về việc xin thuận tình ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền

+ Tòa án kiểm tra đơn và ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ trong vòng 03 ngày làm việc;

+ Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

Sau khi bạn nộp tạm ứng án phí, thẩm phán sẽ ra quyết định thụ lý vụ án và gửi đến các đương sự trong vụ án.

Thời hạn chuẩn bị xét xử với vụ án về hôn nhân gia đình tối đa là 04 tháng, nếu vụ án có nhiều tình tiết phức tạp thì thẩm phán được phân công có quyền gia hạn thêm nhưng không quá 02 tháng. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, tòa án sẽ gửi thông báo mời các đương sự có mặt tại tòa để tiến hành đánh giá chứng cứ,tài liệu và hòa giải cho các bên.

Hết thời hạn chuẩn bị xét xử, nếu không hòa giải được cho các bên thì thẩm phán ra quyết định mở phiên tòa xét xử vụ việc. Trường hợp bị đơn không có mặt tại phiên tòa mà không có đơn xin vắng mặt thì thẩm phán sẽ hoãn phiên tòa và ấn định ngày xét xử lần 2. Nếu bị đơn vắng mặt ở phiên xét xử lần 2 thì tòa án sẽ xem xét bằng chứng mà nguyên đơn cung cấp, nếu có đủ căn cứ để giải quyết vụ việc thì phiên xét xử vẫn được tiến hành. Ngược lại, nếu không có đủ căn cứ để giải quyết, tòa án sẽ trả lại hồ sơ cho nguyên đơn.

Lưu ý:

+ Nguyên đơn phải có mặt tại phiên tòa, nếu có lý do chính đáng không có mặt được tại phiên tòa khi tòa án triệu tập phải có đơn đề nghị hoãn phiên tòa.

+ Nguyên đơn không có mặt tại phiên xét xử và không có lý do chính đáng thuộc trường hợp từ bỏ quyền khởi kiện, tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết và trả hồ sơ cho người nộp.

+ Đương sự trong vụ án ly hôn được ủy quyền cho người khác thực hiện hồ sơ, thủ tục, không ủy quyền tham gia tố tụng.

2. Mức án phí ly hôn khi thực hiện thủ tục ly hôn

Với trường hợp ly hôn thuận tình mức án phí là 300.000 VNĐ do hai bên đương sự cùng nộp.

I

Lệ phí giải quyết việc dân sự

mức nộp

1

Lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động

300.000 đồng

Đối với việc ly hôn đơn phương thì nguyên đơn là người phải nộp án phí không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn....(xem thêm tại điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14).

1

Án phí dân sự sơ thẩm

Mức thu

1.1

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động không có giá ngạch

300.000 đồng

...

1.3

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có giá ngạch

a

Từ 6.000.000 đồng trở xuống

300.000 đồng

b

Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c

Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000. 000 đồng + 4% của phầngiá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d

Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng

đ

Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 2.000.000.000 đồng

e

Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng.ới

3. Các trường hợp hạn chế quyền ly hôn đối với người chồng

Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định quyền yêu cầu giải quyết ly hôn tại Điều 51, theo đó về nguyên tắc:
“Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”.
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định những trường hợp đặc biệt về quyền giải quyết ly hôn bao gồm:
Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Như vậy, để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ và trẻ em, pháp luật hạn chế quyền li hôn của người chồng trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Trên thực tế, việc xác định người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng dựa trên sự thực là người vợ đang chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng con dưới 12 tháng, do vậy khi thực hiện quy định sẽ phát sinh tranh chấp, vướng mắc trong một số trường hợp cụ thể mà chúng ta cần phải xác định xem người chồng có được quyền đơn phương ly hôn hay không, chẳng hạn như:
Trường hợp người phụ nữ sinh con dưới 12 tháng tuổi nhưng không nuôi con, thì trên thực tế họ không được xét vào trường hợp mang thai/ sinh con/ đang nuôi con, như vậy người chồng vẫn có thể đơn phương ly hôn
Người phụ nữ mang thai hộ cho người khác thì về nguyên tắc người phụ nữ vẫn được coi là đang mang thai và người chồng không có quyền ly hôn;
Người phụ nữ nhờ người khác mang thai hộ, nên trên thực tế họ cũng không được xác định là đang mang thai/sinh con/nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nên trong trường hợp này người chồng không bị hạn chế quyền ly hôn;
Trường hợp người phụ nữ nhận nuôi con nuôi (hợp pháp theo quy định của pháp luật) mà đứa con dưới 12 tháng tuổi thì về nguyên tắc người chồng cũng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn.

4. Căn cứ xem xét ly hôn của Tòa án

Việc giải quyết ly hôn cần dựa trên các điều kiện nhất định. Theo quy định thì căn cứ để Tòa xem xét cho ly hôn là:

1. Khi xem xét yêu cầu ly hôn, Toà án xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.

* Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

– Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

* Cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dàiđược xác định căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như đã hướng dẫn ở trên. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

* Mục đích của hôn nhân không đạt đượclà không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.

Vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tíchThực tiễn cho thấy có thể xảy ra hai trường hợp như sau:

a. Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn. Trong trường hợp này nếu Toà án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyết cho ly hôn; nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích thì bác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng.

b. Người vợ hoặc người chồng đã bị Toà án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan. Sau khi bản án của Toà án tuyên bố người vợ hoặc người chồng mất tích đã có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc người vợ của người đó có yêu cầu xin ly hôn với người đó. Trong trường hợp này Toà án giải quyết cho ly hôn.

5. Giải quyết quyền lợi và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi ly hôn

Nguyên tắc chung khi giải quyết ly hôn là ưu tiên sự thỏa thuận một cách tự nguyện của các cặp vợ chồng khi có yêu cầu ly hôn.

Trường hợp không thỏa thuận được thì sẽ giải quyết theo yêu cầu của pháp luật. Cụ thể:

1. Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

* Nguyên tắc chung:

Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây (Điều 95 Luật Hôn nhân gia đình):

– Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

– Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

– Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

– Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

* Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn

– Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

– Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.

* Chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn

– Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

– Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

+ Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thoả thuận của hai bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết theo nguyên tắc chung.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

+ Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

+Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo nguyên tắc chung quy định tại Điều 95 của Luật Hôn nhân gia đình 2000;

+ Việc chia quyền sử dụng đối với các loại đất khác được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật dân sự.

+Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 96 của Luật này.

* Chia nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi ly hôn được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này; nếu không thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng.

* Giải quyết quyền lợi của vợ, chồng khi ly hôn trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.

2. Cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Luật hôn nhân gia đình quy định: “Khi ly hôn, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.”

Mức cấp dướng sẽ do vợ hoặc chồng tự thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân và quyền nuôi con sau ly hôn, gọi: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Ly hôn là gì ? Quy định pháp luật về li hôn

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Vợ bị tâm thần thì chồng có quyền ly hôn không?

Trả lời:

Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”

Như vậy, trong trường hợp vợ bị tâm thần thì không bị hạn chế quyền ly hôn của người chồng.

Câu hỏi: Vợ vừa sinh con chồng có được ly hôn không?

Trả lời:

Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”
Theo đó, vợ, chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, tại Khoản 3 của điều này có quy định, trong trường hợp mà vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em, họ là bộ phận yếu thế trong xã hội, nên thường được pháp luật và xã hội đặc biệt quan tâm, bảo vệ. Người phụ nữ trong thời gian mang thai, sinh con hay nuôi con nhỏ, tâm lý họ không được ổn định, nhạy cảm, và dễ xúc động.

Câu hỏi: Bố mẹ có được thay con gái yêu cầu Tòa án ly hôn không?

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau: “Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.”

Như vậy, trường hợp này cần kết hợp đồng thời hai yếu tố: là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng gây ra khiến tổn hại sức khỏe,…nghiêm trọng thì cha mẹ đẻ mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết đơn xin ly hôn.