Thưa luật sư! Ngày 12/7/2018 tôi có được một thông báo qua tin nhắn Facebook về việc trúng giải nhất gồm 1 xe Honda SH trị giá 102 triệu đồng và 200 triệu đồng tiền mặt. Phía thông báo trúng thưởng là một công ty có địa chỉ ở Quận 1, TP.HCM. Sau khi nhận được thông báo từ số điện thoại 0523074568, tôi đã truy cập vào trang web và thấy có 2 người khác trúng giải nhì và giải ba nên đã tin việc mình trúng giải nhất. Sau đó có một số điện thoại khác là 0869.467.450 đã yêu cầu tôi nạp thẻ điện thoại với giá trị 6 triệu đồng để làm thủ tục. Sau đó, chúng tiếp tục gọi điện yêu cầu nạp tiếp 13,5 triệu đồng tiền hoàn thiện hồ sơ bàn giao xe máy, 15,5 triệu đồng tiền hoàn thiện hồ sơ nhận phiếu quà tặng 200 triệu đồng. Ngoài ra còn có 3,5 triệu đồng tiền chuyển khoản số tiền 200 triệu đồng trúng thưởng nói trên. Tổng cộng tôi đã bị lừa là 38,5 triệu đồng. Sau khi hoàn thành tất cả thù tục chuyển tiền thì đến nay tôi vẫn chưa nhận được chiếc xe Sh cũng như bất cứ số tiền nào. Bây giờ tôi muốn tố cáo công ty kia thì tố cáo về tội gì, liệu có đòi được tiền không? Muốn báo cáo hành vi trên thì báo cáo với ai?

Luật sư tư vấn hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1.Về căn cứ pháp lý:

- Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

2. Luật sư tư vấn:

Hiện nay thông qua mạng xã hội đã xuất hiện rất nhiều các hình thức lừa đảo mang tính chất tinh vi. Nhưng chủ yếu là chúng thường thường dùng hình thức nhắn tin cho người dân là nhận được thông báo trúng thưởng giá trị lớn như xe máy SH, điện thoại iPhone hay số tiền trị giá 100 triệu đồng,… qua Facebook, Zalo và điện thoại. Khi thấy người dân đã mắc bẫy thì chúng gọi điện, nhắn tin lại yêu cầu nộp thẻ điện thoại, hoặc chuyển một khoản tiền để làm hồ sơ trúng thưởng.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì có thể địa chỉ trang website và thông tin công ty đó ở thực chất đều là thông tin ảo. Nên việc lấy lại số tiền trên sẽ rất khó khăn đòi hỏi cơ quan công an phải tiến hành nhiều các hoạt động điều tra.

Hành vi của các đối tượng trên có thể cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sđ,bs 2017)

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp

…”

Để tố giác hành vi trên thì theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Như vậy, bạn có thể tố giác hành vi này đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận, huyện, nơi công ty đó đặt trụ sở. Nếu không xác định được địa chỉ của công ty đó, thì bạn có thể làm đơn tố cáo gửi Công an quận, huyện, nơi bạn cư trú. Trong đơn tố giác, bạn cần trình bày rõ nội dung sự việc và gửi kèm các bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo là có cơ sở (nội dung tin nhắn trên điện thoại, qua facebook, số điện thoại, địa chỉ facebook...).

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê