Khách hàng: Thưa Luật sư, Hôm trước ở xóm trọ tôi đang chuẩn bị đi làm thì thấy anh G cùng xóm trọ và anh H (bạn của tôi) đang cãi nhau và cbhửi nhau rất to, tôi cũng không quan tâm nhiều nhưng anh G đã chạy nhanh vào nhà và chạy ra với trên tay có con dao dài 30cm chạy thẳng đến chỗ H đang đứng với ý định muốn xiên chết H. Tôi rất hoảng nhưng thấy vậy với một người là bạn thân và tôi cũng là thanh niên cường tráng nên tôi đã chạy lại và vội ngăn G lại và không may con dao lại gây thương tích cho G. G muốn khỏi kiện tôi.

Vậy cho tôi hỏi Hành vi của tôi trong trường hợp này là hành vi được thực hiện trong tình thế cấp thiết có đúng không ạ?

Liệu tôi có phải ngồi tù hay chịu trách nhiệm hành chính?

Cảm ơn Luật sư!

1. Xác định tình thế cấp thiết

- Cơ sở pháp lý: Điều 23 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 23. Tình thế cấp thiết

1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trong cuộc sống mỗi người có quyền được hành động trong tình thế cấp thiết khi có thiệt hại đang xảy ra hoặc bị đe dọa xảy ra ngay khi ảnh hưởng, xâm phạm đến mình, người khác hoặc xã hội, nhà nước... Thiệt hại này không đòi hỏi phải do hành vi của con người gây ra như ở trường họp phòng vệ chính đáng, mà có thể do các nguồn khác nhau như do con vật, do thiên tai, do hỏng hóc kĩ thuật...
Biện pháp gây thiệt hại để ngăn chặn thiệt hại khác chỉ phù hợp với lợi ích xã hội và do vậy được coi là hợp pháp, khi không còn biện pháp khác (biện pháp không gây thiệt hại).
Với tình huống này của bạn, vì bạn thấy G định muốn xiên chết H, bạn của bạn mà bạn mới đi nagưn lại rồi gây ảnh hưởng cho G. Lúc này bạn cũng không còn một biện pháp khác để giúp đỡ H.
Như vậy việc bạn ngăn G không cho G giết H thì đó hoàn toàn là điều đúng đắn trong trường hợp cấp thiết này. Bởi vì theo nhhư quy định quyền được hành động trong tình thế cấp thiết phát sinh khi chỉ còn biện pháp phải gây thiệt hại để ngăn chặn thiệt hại khác.

2. Trách nhiệm hình sự trong trường hợp tình thế cấp thiết

Theo Điều 23 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 23. Tình thế cấp thiết

1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tronh Điều luật, tại khoản 1 đã quy định: Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

>> Xem thêm:  Đặc điểm của nhân thân người phạm tội là gì ? Cách phân loại người phạm tội ?

Vậy khi có cơ sở được hành động trong tình thế cấp thiết, người hành động được phép gây thiệt hại mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về việc gây thiệt hại này khi thiệt hại gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại được ngăn chặn.
Hành động trong tình thế cấp thiết là sự lựa chọn khi đứng trước xung đột lợi ích. Sự lựa chọn chỉ có ý nghĩa nên được xã hội và pháp luật chấp nhận khi lựa chọn lợi ích lớn hơn.
Trong tình huống của bạn, bạn vì muốn ngăn G xiên H nên B đã ngăn lại G và không may con dao lại khiến G bị thương. Rõ ràng, nếu bạn không giữ G lại không biết điều đáng buồn gì sẽ xảy ra.
Theo khoản 2 quy định về hành vi trong tinhd thế cấp thiết đã vượt quá phạm vi cho phép. Theo khoản 1 thì người hành động trong tình thế cấp thiết chỉ được phép gây thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Điều đó có nghĩa khi thiệt hại gây ra không nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa thì không còn là trường hợp tình thế cấp thiết. Tuy nhiên, sự so sánh hai loại thiệt hại trong tình thế cấp thiết là vấn đề không đơn giản, dễ dàng và điều này càng khó khăn hơn đối với người đang đứng trước sự đe dọa gây thiệt hại mà phải lựa chọn biện pháp ngăn chặn sự đe dọa đó.
Trường hợp tại khoản 2: "Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự" này phải chịu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên người thực hiện hành vi này cũng sẽ được giảm nhẹ vì tính chất của động cơ và vì hoàn cảnh phạm tội.Cụ thể theo Điều 51 Bộ luật này.
Với tình huống của bạn, bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành.

Khách hàng: Kính thưa Luật sư tôi có một trường hợp như sau muốn Luật sư tư vấn cho tôi.

Mấy hôm trước có một nhóm người là anh K, anh G và anh H, họ đang thực hiện hành vi cướp giật trên đường phố, sau khi phát hiện thì người dân hô hào và có mấy thanh niên cường tráng ở đó cùng 2 anh công an đuổi theo 3 thanh niên cướp giật này. Khi bị người dân đuổi bắt thì 3 thanh niên đã chia ra hai đường đi, K và G đi một xe và H đi một xe. K và G đã rút mấy con dao họ phòng thủ để ném lại chô người dân và may mắn không ai bị thương. Lúc này anh C đang chạy xe trên đường đi đúng làn và tốc độ nhưng nhìn thấy người dân hô hào và thấy xe K với G đang tiến sát lại xe mình anh C đã đâm xe của mình vào xe K và G làm K và G ngã xuống đất để chặn hành vi của họ. Vì hai cướp giật đi với tốc độ nhanh nên khi ngã xuống K bị đập đầu xuống đất và dẫn đến bất tỉnh phải đưa đi bệnh viện.

Cho tôi hỏi:

1) Anh C có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

2) Trách nhiệm hình sự của C?

3. Xác định người gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm tội

Theo Điều 24. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội như sau:

1. Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

2. Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.

Nhằm phục vụ nhu cầu thực tiễn trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm, Bộ luật hình sự hiện hành đã quy định một chế định riêng trong trường hợp gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội. Đây là chế định mới lần đầu được quy định trong Bộ luật hình sự 2015.

hành vi của người bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội là hành vi mà không còn cách nào khác họ buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

>> Xem thêm:  Tình huống phạm tội là gì ? Vai trò của tình huống trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội

Trong điều luật cũng không uy định chủ thể được áp dụng quy định gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội là ai? tức là không yêu cầu phải là người có chức vụ quyền hạn như: cán bộ, cơ quan điều tra hay viện kiểm sát hay người được giao nhiệm vụ bắt giữ tội phạm mà chủ thể ở đây chỉ cần đảm bảo điều kiện là thực hiện hành vi để nhằm mục đích bắt giữ tội phạm. Như vậy, chủ thể có thể là người không có chức vụ quyền hạn là người dân tham gia quá trình bắt giữ tội phạm.

Với quy định tại điều này khi một người muốn bắt giữ người phạm tội cần đảm bảo 02 điều kiện.

- Thứ nhất là nhằm mục đích bắt giữ tội phạm.

- Thứ hai là trong trường hợp này không còn cách nào khác mà buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết và gây thiệt hại cho người bị bắt giữ.

Như vậy với tình huống bạn cung cấp, anh C đã vì muốn ngăn chặn K và G mà anh C đã đâm xe của mình vào xe K và G làm K và G ngã xuống đất để chặn hành vi của họ. Đây là điều hợp lý và chính đáng.

4. Trách nhiệm hình sự của người bắt giữ người phạm tội

Theo Điều 24. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội như sau:

1. Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

2. Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo khoản 2 điều luật này, nếu trong khi bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà gây thiệt hại do sử dụng vũ lực quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình. Đây là điều khoản hạn chế một phần của việc sử dụng vũ lực không cần thiết trong bắt giữ tội phạm, tránh tâm lý áp dụng bạo lực một cách bừa bãi, cũng là quy định nhằm bảo vệ cho người thực hiện hành vi phạm tội ở mức cần thiết.

Nhưng theo như tình huống bạn đã đưa, anh C đâm xe của mình vào xe K và G làm K và G ngã xuống đất để chặn hành vi của họ. Trong tình thế cấp thiết bắt buộc anh C phải làm như vậy để ngăn chặn hành vi nguy hiểm này của K và G đang cướp giật.

Nếu trường hợp vượt quá phạm vi trong tình thế cấp thiết thì người đó cũng sẽ được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điều 51 bộ luật này.

>> Xem thêm:  Nhân thân người phạm tội là gì ? Ý nghĩa của việc nghiên cứu người phạm tội

"Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;..."

5. Như thế nào thì được gọi là phòng vệ chính đáng?

- Cơ sở pháp lý: Điều 22. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Điều 22. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.

Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả cần thiết theo quy định của pháp luật khi bị người khác xâm phạm về tính mạng sức khỏe, lợi ích chính đáng của mình.

Phòng vệ chính đáng không chỉ nhằm gạt bỏ sự đe doạ, đẩy lùi sự tấn công trái pháp luật của người khác mà nó còn thể hiện thái độ tích cực chống trả sự xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, của mình hoặc của người khác trong xã hội.

Khi đánh giá hành vi chống trả có cần thiết hay không phải xem xét một cách toàn diện tất cả các tình tiết của vụ án, trong đó đặc biệt là tâm lý, thái độ của người phòng vệ khi xảy ra sự việc, họ không có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn chính xác phương pháp, phương tiện thích hợp để chống trả, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ, chỉ coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng khi sự chống trả rõ ràng là quá đáng.

Khi một người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.

Cụ thể tại Điều 136 của Bộ luật quy định như sau:

Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên.

3. Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tình thế cấp thiết được quy định như thế nào?

Trả lời:

Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.(khoản 1 Điều 23 Bộ luật hình sự).

Câu hỏi: Người gây hành vi nguy hiểm trong tình thế cấp thiết có bị xử lý hình sự?

Trả lời:

Điều 23. Tình thế cấp thiết

1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

=> Vậy nếu trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Câu hỏi: Gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm tội được quy định như thế nào?

Trả lời:

Điều 24. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội 

1. Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

2. Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.