Tư vấn về kết quả bầu cử trưởng thôn ?

Xin chào luật sư, nơi tôi đang ở vừa kết thúc cuộc bầu cử trưởng thôn. Tổng số cử tri đại diện hộ trong thôn là 501 hộ, tham gia bỏ phiếu có 496 hộ, kết quả bầu cử như sau: số phiếu phát ra 496 phiếu, số phiếu thu về 496 phiếu, số phiếu hợp lệ là 482 phiếu, số phiếu không hợp lệ là 14 phiếu. Ông Nguyễn Văn A được 243 phiếu đạt 50,41%, ông Phùng Văn B được 239 phiếu đạt 49,58%, kết quả ông Nguyễn Văn A trúng cử chức trưởng thôn. Xin hỏi luật sư kết quả và cách tính % như vậy là đúng hay sai?
-Phùng Đạt

Trả lời:

Điều 8 Nghị quyết liên tịch 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN quy định về Bầu cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tại hội nghị thôn, tổ dân phố

1. Tổ trưởng tổ bầu cử chủ trì hội nghị bầu cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.

Hội nghị bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố được tiến hành khi có trên 50% số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tham dự.

2. Việc bầu cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thực hiện theo trình tự sau đây:

a) Tổ trưởng tổ bầu cử đọc quyết định công bố ngày tổ chức bầu cử; quyết định thành lập Tổ bầu cử, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ bầu cử; quyết định thành phần cử tri tham gia bầu cử;

b) Tổ trưởng tổ bầu cử quyết định việc để Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố đương nhiệm báo cáo kết quả công tác nhiệm kỳ vừa qua trước hội nghị cử tri; hội nghị cử tri thảo luận về công tác nhiệm kỳ vừa qua của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.

c) Tổ trưởng tổ bầu cử nêu tiêu chuẩn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố;

d) Đại diện Ban công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố giới thiệu danh sách những người ra ứng cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố do Ban công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố đề cử và Chi ủy Chi bộ thôn, tổ dân phố thống nhất theo quy trình quy định tại khoản 2 Điều 6 của Hướng dẫn này. Tại hội nghị này, cử tri có thể tự ứng cử hoặc giới thiệu người ứng cử;

đ) Hội nghị thảo luận, cho ý kiến về những người ứng cử. Trên cơ sở các ý kiến của cử tri, Tổ bầu cử ấn định danh sách những người ứng cử để hội nghị biểu quyết. Việc biểu quyết số lượng và danh sách những người ứng cử được thực hiện bằng hình thức giơ tay và có giá trị khi có trên 50% số cử tri tham dự hội nghị tán thành;

e) Tiến hành bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố:

- Việc bầu cử có thể bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín do hội nghị quyết định;

- Nếu bầu bằng hình thức giơ tay, Tổ bầu cử trực tiếp đếm số biểu quyết. Nếu bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín, Tổ bầu cử làm nhiệm vụ kiểm phiếu.

- Tổ bầu cử tiến hành kiểm phiếu tại nơi bỏ phiếu ngay sau khi kết thúc cuộc bỏ phiếu; mời đại diện cử tri không phải là người ứng cử có mặt tại đó chứng kiến việc kiểm phiếu.

Kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử lập biên bản kiểm phiếu. Biên bản kiểm phiếu phải ghi rõ: Tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình của thôn, tổ dân phố; số cử tri tham gia hội nghị; số phiếu phát ra; số phiếu thu vào; số phiếu hợp lệ; số phiếu không hợp lệ; số phiếu và tỷ lệ bầu cho mỗi người ứng cử so với tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình toàn thôn, tổ dân phố.

Người ứng cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là người đạt trên 50% số phiếu bầu hợp lệ so với tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong toàn thôn, tổ dân phố.

Biên bản kiểm phiếu lập thành 03 bản, có chữ ký của các thành viên Tổ bầu cử.

g) Tổ trưởng tổ bầu cử lập báo cáo kết quả bầu Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, kèm theo Biên bản kiểm phiếu gửi ngay đến Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.

Căn cứ theo quy định trên, cách tính tỉ lệ phần trăm như trên là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật. Theo đó, ông Nguyễn Văn A có tổng số phiếu bầu chiếm trên 50% số phiếu bầu hợp lệ và tổng số phiếu này lớn hơn ông B. Do đó, ông A trúng cử chức trưởng thôn theo đúng quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất ? Hướng dẫn chính sách đền bù khi bị thu hồi đất đai ?

Trưởng thôn muốn đổi đất của nhà văn hoá ?

Xin chào luật sư Minh Khuê. Em xin nhờ luật sư tư vấn giúp em một việc như sau: Hiện tại em đang làm trưởng thôn khóa 2015-2017, năm 2013 thì trưởng thôn cũ có bán 1 suất ao sau nhà văn hóa của thôn. Đến bây giờ sau nhà văn hóa bị sạt lở, thôn muốn lấy lại chỗ ao đã bán để bảo vệ nhà văn hóa thôn nhưng vì thôn không có tiền mua lại. Vậy em định đổi chỗ ao trưởng thôn cũ đã bán lên đất phía tây nhà văn hóa của thôn. Như vậy theo luật đất đai em có vi phạm gì không ? Xin chân thành cảm ơn!

-Vũ Đức Học

Trả lời:

Hiện tại, pháp luật Việt Nam không có quy định về vấn đề đổi đất. Tuy nhiên, với tư cách là trưởng thôn thì bạn cũng không được tự ý đổi miếng đất đã bán bằng một mảnh đất khác.

Điều 211 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Sở hữu chung của cộng đồng

1. Sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, cộng đồng tôn giáo và cộng đồng dân cư khác đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng.

2. Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán vì lợi ích chung của cộng đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

3. Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia.

Vì đất thuộc nhà văn hóa là sở hữu chung, do đó việc đổi miếng đất cũng cần được lấy ý kiến của đại diện các hộ gia đình trong thôn. Ngoài ra, việc hoán đổi vị trí đất này cũng cần phải thông qua thỏa thuận với người mua, trong trường hợp được đại diện các hộ gia đình trong thôn đồng ý và được người mua chấp nhận thì bạn có thể hoán đổi vị trí hai mảnh đất.

 

>> Xem thêm:  Thời hạn của loại đất quy định trong bảng giá đất ? Quy định về mua bán các loại đất

Trưởng thôn có quyền được đo đất không ?

Xin chào luật sư. Xin luật sư cho em hỏi là trưởng thôn có quyền đo đất khi xảy ra tranh chấp không và địa chính xã có quyền giao cho trưởng thôn đo đất không. Nếu vậy trưởng thôn có cho là vi phạm pháp luật không ? Gia đình tôi có làm đơn khiếu nại nhưng mà xã không đồng ý và gửi về . Vậy em phải làm gì trong trường hợp này ạ. Mong luật sư giúp đỡ gia đình em. Em xin cảm ơn
-Vankien Do

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật thì cán bộ địa chính xã có nhiệm vụ, quyền hạn như sau: Thẩm định, xác nhận hồ sơ để Uỷ ban nhân dân cấp xã cho thuê đất, chuyển đổi quyền sử dụng đất, đăng ký giao dịch bảo đảm đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật; Thực hiện việc đăng ký, lập và quản lý hồ sơ địa chính; theo dõi, quản lý biến động đất đai; chỉnh lý hồ sơ địa chính; thống kê, kiểm kê đất đai; Quản lý dấu mốc đo đạc và mốc địa giới; bảo quản tư liệu về đất đai, đo đạc và bản đồ,...

Vì việc đo đạc, kiểm kê đất đai là công việc mang tính chuyên môn của cán bộ địa chính xã, do đó, cán bộ địa chính xã không được giao cho trưởng thôn thực hiện hoạt động này. Trong trường hợp gia đình bạn có khiếu nại nhưng không được chấp nhận thì gia đình bạn có quyền yêu cầu được biết lí do tại sao bị bác đơn khiếu nại. Nếu bên xã không đưa ra được lí do hoặc lí do không chính đáng thì bạn co quyền khiếu nại lên Ủy ban nhân dân cấp huyện để được xem xét giải quyết. 

>> Xem thêm:  Đất ao liền kề với đất ở thì chủ sở hữu đất ở có được sử dụng không ?

Trưởng thôn muốn lấy đất đai ?

Thưa luật sư, gia đình cháu do sống gần vùng sông nên đã khai hoang khu vực ven sông từ thời xưa, đến nay mảnh đất đó vẫn chưa vào sổ đỏ. Nên ông trưởng thôn đã họp và tịch thu, lấy luôn phần đất nhà cháu trong khi đó mảnh đất đó là do bố mẹ đã khai hoang từ lâu, trồng trọt lâu rồi. Đến nay ông trưởng thôn muốn chủ ý chiếm nhưng không được nên đã đề nghị tịch thu để xóm lấy đất công tác làm xung quỹ. Cháu muốn hỏi là việc thôn làm như thế có đúng không? ví dụ gia đình cháu không đồng tình với cách đó không giao đất thì có sao không? làm thế nào để lấy lại mảnh đất đó? cháu cảm ơn !
-Vi Văn Hữu

Trả lời:

Điều 101 Luật Đất đai 2013 quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Như vậy, căn cứ theo quy định trên, nếu gia đình bạn đáp ứng được một trong 2 điều kiện nêu trên thì gia đình bạn sẽ đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồi với mảnh đất do bố mẹ bạn khai hoang. Về việc thu hồi đất, Điều 66 Luật Đất đai 2013 quy định về thẩm quyền thu hồi đất như sau:

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.

Như vậy, trưởng thôn không có quyền thu hồi đất, do đó, gia đình bạn không có nghĩa vụ phải giao đất trong trường hợp này. Nếu trưởng thôn tiếp tục yêu cầu gia đình bạn giao đất thì gia đình bạn có thể khiếu nại lên ủy ban nhân dân xã để được giải quyết theo quy định của pháp luật. 

>> Xem thêm:  Nhà đất chưa có sổ đỏ thì khi thu hồ có được bồi thường không?

Tư vấn về đất công ?

Xin chào luật sư ! Tôi có một số câu hỏi thắc mắc liên quan đến đất đai xin nhờ luật sư tư vấn. Địa phương tôi có mảnh đất 2000m2 trước là uỷ ban xã ,nay uỷ ban xã đã chuyển đi nơi khác và mảnh đất vẫn đang để hoang, do thôn sở tại hiện vẫn chưa có nhà văn hóa nên bà con trong thôn cùng trưởng thôn đã lên xã xin được xây dựng nhà văn hóa và sân chơi trên mảnh đất đó và đã được chính quyền xã cho phép xây dựng nhà văn hóa(không có văn bản). Nhưng nay xã lại cho một cá nhân thuê 120m vuông để ở,(xây nhà). Bà con trong thôn rất bức xúc vì nếu xã cho cá nhân thuê như vậy thì nhà văn hóa sẽ không xây đúng yêu cầu, sẽ không có đủ dân chơi. Vì vậy xin luật sư cho biết việc xã cho cá nhân thuê đất để xây nhà ở như vậy có đúng không? Xin luật sư tư vấn giúp bà con.
-Thành Yên

Trả lời:

Điều 59 Luật Đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất như sau:

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức;

b) Giao đất đối với cơ sở tôn giáo;

c) Giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 55 của Luật này;

d) Cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 56 của Luật này;

đ) Cho thuê đất đối với tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định;

b) Giao đất đối với cộng đồng dân cư.

3. Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

4. Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được ủy quyền.

Căn cứ theo quy định trên, ủy ban nhân dân xã chỉ có quyền cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn. Đối với trường hợp cá nhân có nhu cầu thuê đất để xây nhà ở như vậy thì cần phải do Ủy ban nhân dân cấp huyện cho phép. Như vậy, hành vi của ủy ban xã là trái quy định của pháp luật. Đại diện người dân trong thôn có thể làm đơn khiếu nại gửi lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, nếu không được giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng thì có thể gửi đơn khiếu nại lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện để có quyết định xử lý hành vi trái pháp luật của cấp xã. 

Mọi vướng mắc pháp lý về thực hiện quyền dân chủ cấp cơ sở, 1900.6162(nhấn máy lẻ phím 3) để được luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê 

>> Xem thêm:  Đóng thuế sử dụng đất hàng năm như thế nào ?