Hiện nay vì điều kiện sức khỏe, ngày 22/5/2015 tôi đã làm Đơn xin chấm dứt HĐLĐ với Công ty với lý do là sức khỏe (Xin chấm dứt HĐLĐ từ 01/9/2015), đã được cán bộ phòng TC-HC Công ty xác nhận ngày nhận đơn là 22/5/2015. Nhưng hiện tại, ngày 10/6/2015, tôi được Công ty của tôi đang làm thông báo là sẽ không thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động và sẽ họp những ai có nhu cầu nghỉ việc do sức khỏe kém, tiến hành đưa chúng tôi đi giám định: nếu suy giảm khả năng lao động trên 61% thì sẽ cho nghỉ hưu trước tuổi (không được hưởng trợ cấp thôi việc) còn suy giảm dưới 61% sức khỏe sẽ quay về làm việc tiếp (Nếu chúng tôi không đi giám định thì sẽ bị xem xét kỷ luật sa thải do chống lệnh của Công ty).

Xin hỏi: Tôi có nên đồng ý đi giám định suy giảm lao động như Công ty giới thiệu không? Vì nếu tôi đồng ý đi giám định và kết quả giám định suy giảm lao động lớn hơn 61% thì tôi có phải về hưu trước tuổi và không được hưởng trợ cấp thôi việc? (quả thực tôi muốn nghỉ hưu trước tuổi nhưng phải có tiền trợ cấp thôi việc do Công ty trả!) còn nếu không đi giám định sẽ bị coi là chống lệnh của Công ty!

Mong Luật sư tư vấn.

Trân trọng cảm ơn!

Người gửi: T.P

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê. 

Tư vấn chấm dứt hợp đồng lao động mà vẫn có trợ cấp thôi việc ? 

Luật sư tư vấn luật lao động gọi số: 1900.1975

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đén cho chúng tôi, chúc bạn sức khỏe. Vấn đề của bạn như sau:

1. Cơ sở pháp luật:

-Luật bảo hiểm xã hội 2006

-Luật lao động năm 2012

-Quyết định số 1629/BLĐTBXH-QĐ: Về việc ban hành tạm thời danh mục nghề, công việc nặng nhọc độc hại nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc độc hại nguy hiểm.

2. Nội dung phân tích:

Như vậy, chị là lao động Nữ, làm việc tại Công ty theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã có 28 năm tham gia BHXH bắt buộc trong đó có hơn 15 năm làm nghề nặng nhọc (loại IV), tuổi về hưu đúng tuổi là 50 tuổi. Căn cư điều kiện hưởng lương hưu đã đủ điều kiện:

Điều 50. Điều kiện hưởng lương hưu

1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c và e khoản 1 Điều 2 của Luật này có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi;

b) Nam từ đủ năm mươi lăm tuổi đến đủ sáu mươi tuổi, nữ từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên. Tuổi đời được hưởng lương hưu trong một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.

2. Người lao động quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật này có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Nam đủ năm mươi lăm tuổi, nữ đủ năm mươi tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam hoặc Luật công an nhân dân có quy định khác;

b) Nam từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi, nữ từ đủ bốn mươi lăm tuổi đến đủ năm mươi tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.

Như vậy chị đủ diều kiện về độ tuổi đối với lao động nữ, đủ năm tham gia BHXH tuy nhiên chị xem xét về điều kiện 15 năm làm công việc nặng nhọc độc hại nguy hiển do Bộ Lao động thương binh xã hội và Bộ y tế ban hành (qđ số 1629) nếu đáp ứng đủ điều kiện như luật định chi sẽ được hưởng lương hưu. Nếu không đủ điều kiện chị có thể căn cứ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động (đối với lao động không thuộc chính sách tiinh giảm biên chế):

Điều 51. Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động

Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 2 của Luật này đã đóng bảo hiểm xã hội đủ hai mươi năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại Điều 50 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên;

2. Có đủ mười lăm năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.

Về việc đi giám định suy giảm khả năng lao động

-Nếu đủ 61% trở lên chị sẽ đủ điều kiện nghỉ hưu khi suy giảm khả năng lao động , do đó chị sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc nữa, căn cứ điều 48 luật lao động quy định 

"1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Khoản 4.điều 36: Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này."

- Trường hợp chị chưa đủ 61% suy giảm khả năng lao động thì chị có thể thỏa thuận với công ty về việc chấm dứt hợp đồng lao động, nếu như chị không đi giảm định, công ty cũng không có cơ sở để sa thải chị vì căn cứ bộ luật lao động 

Điều 126. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Trên đây là một số tư vấn về vấn dề của chị. Chi tiết xin liên hệ 1900.1975 .

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật lao động - Công ty luật Minh Khuê