1. Tư vấn đăng ký khai sinh cho con khi bố mẹ ly hôn ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi năm nay 26 tuổi, kết hôn và đăng ký kết hôn năm 2012, sinh con gái đầu lòng năm 2013, đến tháng 6/2014 thì vợ chồng ly hôn. Sau khi ly hôn tôi và con gái vẫn sống cùng với chồng, anh không cho 2 mẹ con đi. Vợ chồng tôi vẫn sống tốt với nhau như chưa ly hôn vậy. Đến nay tôi lại mang bầu đứa thứ 2 đến tháng 7/2015 là tôi sinh. Chồng tôi không nói gì về vấn đề đăng ký kết hôn lại.
1. Vậy bé sinh ra làm giấy khai sinh theo họ của cha có được không?
2. Nếu tôi đăng ký giấy khai sinh cho bé thứ 2 theo họ mẹ, và muốn thay đổi họ của bé gái đầu cũng theo họ mẹ vậy có đươc không?
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: T.H

Tư vấn đăng ký khai sinh cho con khi bố mẹ ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi số:1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi cho chúng tôi, chúc bạn sức khỏe. Vấn đè của bạn như sau:

Bạn kết hôn và đăng ký kết hôn 2012, đến 2013 sinh cháu đầu, 6/2014 bạn và chồng ly hôn tuy nhiên vợ chồng vẫn chung sống với nhau. Đến tháng 7/2015 chị sinh bé thứ hai.

1. Bé sinh ra có thể khai sinh theo họ cha

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

Như vậy cháu bé sắp sinh do vợ chồng bạn đã ly hôn trước đó nên bạn phải làm thủ tục nhận cha cho con

Theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP bạn làm thủ tục đăng ký khai sinh và xác nhận cha cho con, theo đó bạn có thể cho con theo họ cha.

Đăng ký khai sinh: Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.

Căn cứ Thông tư 01/2008/TTBTP hướng dẫn đăng ký và quản lý hộ tịch: "Xác định họ và quê quán khi đăng ký khai sinh, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ.

Trong trường hợp đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không có quyết định công nhận việc nhận cha cho con, thì họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người mẹ."

Điều 34. Thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con

1. Người nhận cha, mẹ, con phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định). Trong trường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Kèm theo Tờ khai phải xuất trình các giấy tờ sau đây:

a) Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con;

b) Các giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (nếu có).

2. Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.

3. Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt, trừ trường hợp người được nhận là cha hoặc mẹ đã chết. Cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con và Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của các bên.

2. Thay đổi chọ cho bé đầu theo họ mẹ.

Căn cứ Bộ luật dân sự về việc thay đổi họ tên:

Điều 27. Quyền thay đổi họ, tên

1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong các trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;

b) Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ, tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;

c) Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;

d) Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại;

+Khoản 1, Điều 36, Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định: "Thay đổi họ, tên, chữ đệm đã được đăng ký đúng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh nhưng cá nhân có yêu cầu thay đổi khi có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự".

+Nếu việc yêu cầu thay đổi từ họ cha sang họ mẹ cho con không vì quyền lợi hợp pháp của con mà còn gây ảnh hưởng đến tâm lý của con, xáo trộn đến đời sống, việc học hành của con trẻ, với động cơ, mục đích cản trở quyền và nghĩa vụ người cha trong việc cấp dưỡng, thăm nom, chăm sóc, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của con, chia rẽ tình cảm của con với cha, thì việc yêu cầu đó được coi là không có lý do chính đáng và không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

+Trường hợp yêu cầu thay đổi họ cho con của bạn từ họ cha sang họ mẹ phải xuất phát từ quyền lợi hợp pháp của hai con và phải được sự thỏa thuận, đồng ý của cả cha và mẹ.

->Như vậy cháu đầu được xác định là con chung trong thời kỳ hôn nhân, do đó bạn có thể đỏi họ co cháu theo họ mẹ tuy nhiên phải đảm bảo được các điều kiện trên cũng như sự đồng ý của người cha.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Hướng dẫn ly hôn với chồng người Na-uy ?

Thưa luật sư, Thủ tục ly hôn với người nước ngoài: Em và chồng kết hôn ở An Giang, chồng em là người Na-Uy. Vậy bây giờ em muốn làm thủ tục ly hôn tại Hồ Chí MIinh được không ? Em và chồng đang sống ở nước ngoài nên có thể vấn mặt cả 2 người không? Mọi giấy tờ em có thể ký và gửi tại Đại sứ quán Việt Nam nơi chúng em ở xác nhận được không?

Fwd: Tu van ly hon

Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình 1900.6162

Trả lời:

Vụ án ly hôn là một trong những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 ( Luật sửa đổi bổ sung năm 2011). Khi yêu cầu ly hôn, bạn phải gửi đơn đến tòa có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Ở đây, bạn không nói rõ bạn đang cư trú ở đâu nên chúng tôi sẽ tư vấn như sau:

Theo quy định tại khoản 1, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ( Luật sửa đổi bổ sung năm 2011) thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa án:

-Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

- Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

- Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản.

Tòa án thụ lý giải quyết vụ việc ly hôn này là Tòa án nhân dân tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương.Theo quy định trên, thì bạn phải gửi đơn xin ly hôn đến tòa án nơi cư trú của chồng bạn, hoặc nếu hai người thỏa thuận được với nhau thì có thể gửi đơn đến tòa án nơi cư trú của bạn. Như vậy bạn có thể làm thủ tục ly hôn tại thành phố Hồ Chí Minh nếu thuộc hai trường hợp nêu trên.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay thì việc ly hôn bắt buộc Tòa án phải tổ chức hòa giải tại Tòa án và không được ủy quyền cho người khác (chỉ có thể ủy quyền giải quyết tranh chấp về tài sản và tranh chấp giành quyền nuôi con). Do vậy, nếu muốn ly hôn tại Việt Nam thì bắt buộc cả hai vợ chồng phải có mặt tại Việt Nam tại thời điểm giải quyết ly hôn.

Theo quy định tại khoản 7 Điều 8 Luật Cơ quan đại diện nước cộng hòa xã hộ chủ nghĩa Việt Nam năm 2009 thì " Thực hiện nhiệm vụ công chứng, chứng thực phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên; tiếp nhận, bảo quản giấy tờ, tài liệu và đồ vật có giá trị của công dân, pháp nhân Việt Nam khi có yêu cầu và không trái với pháp luật quốc gia tiếp nhận". Ở đây bạn Dương là công dân Việt Nam nên bạn có thể ký và gửi giấy tờ tại Đại sứ quán Việt Nam nơi bạn đang ở.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Cách giành quyền nuôi cả hai con dưới 36 tháng tuổi ?

Thưa luật sư. Hiện tại tôi kết hôn đã gần 4 năm. 2 vợ chồng tôi có 2 đứa con trai, 1 đứa 28 tháng tuổi và một đứa 10 tháng tuổi. Hiện tại cuộc sống chúng tôi không hạnh phúc, tôi muốn đơn phương ly hôn, nhưng con tôi cả 2 đều quá nhỏ. Tôi muốn chúng đều sống với tôi. Hiện tại chồng tôi cũng đi làm. Thu nhập mỗi tháng của anh khoảng 7 triệu, còn tôi thì 8 triệu. Nếu chúng tôi ly hôn có được quyền nuôi dưỡng cả hai cháu không?
Tôi xin cảm ơn.

Ly hôn và giành quyền nuôi cả hai con dưới 36 tháng tuổi ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

- Khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn".

- Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Như vậy, bạn có quyền yêu cầu ly hôn đơn phương khi hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về tình trạng trên.

- Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo như thông tin bạn cung cấp thì bạn có con 28 tháng tuổi và 10 tháng tuổi, có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Về nguyên tắc, sau khi ly hôn thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Do đó, khi tòa giải quyết ly hôn thì hai cháu sẽ do bạn trực tiếp nuôi mà gia đình nhà chồng không có quyền ngăn cản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn ly hôn đơn phương và giành quyền nuôi con cho vợ ?

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Tư vấn thủ tục ly hôn khi không có giấy đăng ký kết hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi và chồng tôi kết hôn từ năm 2014 đến nay. Do vợ chồng không hòa hợp, cuộc sống không hạnh phúc nên giờ tôi muốn ly hôn, nhưng tôi và chồng tôi không làm thủ tục đăng ký kết hôn.
Vậy thủ tục ly hôn của chúng tôi phải làm như thế nào ?
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Người gửi: N.N

Tư vấn thủ tục ly hôn khi không có giấy đăng ký kết hôn ?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 9. Đăng ký kết hôn

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý."

Bạn kết hôn mà không làm thủ tục đăng kí kết hôn nên việc kết hôn của bạn không có giá trị pháp lý. Do vậy, thủ tục ly hôn của hai bạn không được đặt ra.

Tuy nhiên, pháp luật vẫn có quy định về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn tại các điều 14, 15, 16 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."

Như vậy, nếu bạn muốn chấm dứt việc chung sống với nhau như vợ chồng thì quyền và nghĩa của hai bạn với các con được thực hiện theo quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con (từ Điều 68 đến Điều 87 luật hôn nhân và gia đình). Còn quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của hai bạn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên, trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Hai bạn cũng chú ý: Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Để được hỗ trợ thêm, bạn vui lòng gọi vào tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Chia tài sản như thế nào khi ly hôn ?

Chào luật sư. kính mong luật sư giải đáp thắc mắc trường hợp của tôi. Thời gian 1 năm gần đây, 2 vợ chồng tôi xảy ra nhiều mâu thuẫn về quan điểm sống nên xảy ra nhiều bất đồng. Tôi làm trong nghành xây dựng nên thường xuyên phải đi công tác xa nhà, nên tôi gửi vợ con ở bên nhà Ông bà ngoại. Trước khi kết hôn tôi đã xây nhà, sơ đồ bây giờ vẫn mang tên bố mẹ tôi. Nếu bây giờ thuận tình ly hôn thì tài sản đó có phải chia cho vợ tôi không. Vấn đề nữa là sau khi kết hôn thì kinh tế của gia đình chủ yếu là do tôi chu cấp.
Vậy thì vấn đề phân chia tài sản chung sẽ như thế nào ?
Mong luật sư giải đáp!
Người gửi:V.Đ.B

>> Luật sư tư vấn chia tài sản khi ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Nguyên tắc phân chia tài sản được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Theo đó, nếu căn nhà anh có trước khi kết hôn và không thỏa thuận nhập căn nhà vào tài sản chung thì tài sản đó là tài sản riêng của anh. Khi ly hôn không phải chia cho vợ anh. Còn tài sản chung của hai người có trong thời kì hôn nhân, khi ly hôn Tòa án sẽ xem xét đến các yếu tố được liệt kê tại khoản 2 Điều trên để phân chia.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?