Năm 2009, tôi và 2 anh A và B cùng hợp tác mở công ty TNHH C có 3 thành viên với tỉ lệ góp vốn như sau: Anh A góp 50%, anh B góp 30% và tôi góp 20%. Anh A giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng thành viên, anh B được bổ nhiệm Giám Đốc điều hành cty, và tôi là Phó GĐ. Sau thời gian hoạt động và có vài lần thay đổi tỉ lệ góp vốn thì hiện tại tỉ lệ góp vốn như sau: anh A 40%, anh B 40% và tôi 20%.

Do nhiều vấn đề phát sinh và gúc mắc cá nhân nên anh B buộc tôi phải xin thôi việc và rời khỏi cty đồng thời cũng đề nghị tôi rút cổ phần, và anh B cũng yêu cầu sự đồng thuận từ anh A. Nhưng anh A không đồng ý và anh A cũng có ý muốn rút cổ phần. Còn tôi cũng không đồng ý việc rút cổ phần và nghỉ việc khỏi cty.

Anh B luôn tìm mọi cách để buộc tôi rời khỏi cty và muốn tôi rút cổ phần, nên vì là GĐ điều hành nên anh không phân công công việc cho tôi nữa, đồng thời tự ý thông báo bộ phận HCNS cắt giảm lương của tôi (từ mức lương 17 triệu xuống còn 4.5 triệu + trợ cấp 640 ngàn). Thực tế HĐLĐ tôi ký với cty với mức lương 17 triệu và là HĐ không thời hạn. Và cty tôi chỉ đóng BHXH, YT, TCTN cho nhân viên theo mức căn bản 4.5 triệu + trợ cấp 640 ngàn. Anh B làm chỉ muốn tôi tự xin thôi việc và rời khỏi cty, nếu không anh B sẽ ra quyết định sa thải tôi (anh ấy đã nói như vậy và sẽ trợ cấp cho tôi 3 tháng lương nếu anh sa thải tôi). Tôi đã có gia đình và hiện đang MANG THAI tháng thứ 4, nhưng anh B vẫn cố ý gây khó dễ buộc tôi thôi việc.

Xin hỏi quý luật sư, trong trường hợp của tôi:

- Anh B có quyền quyết định sa thải tôi hay không khi tôi đang mang thai.

- Tôi không muốn nghỉ việc nên tôi không đồng ý xin thôi việc vì tôi đã bỏ công sức để đóng góp cho cty phát triển đến giờ và tôi đang mang thai nên rất khó để thay đổi công việc.

- Nếu anh B vẫn khăng khăng sa thải tôi hoặc không sa thải nhưng không phân công công việc cho tôi như hiện tại và tiếp tục cắt giảm lương của tôi thì tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?

- Nếu buộc phải thôi việc, tôi phải làm gì để không bị thiệt thòi khi xin thôi việc?

- Còn vấn đề rút cổ phần khỏi cty thì tôi đã quyết định rút cổ phần, nhưng tôi muốn giải quyết việc anh B ép buộc tôi thôi việc trước, xong rồi sau đó tôi mới rao bán cổ phần và rút cp khỏi cty.  

Kính mong quý Luật Sư tư vấn cho trường hợp của tôi.

Xin chân thành cám ơn.

Trang

Người gửi: PHAN THI VAN TRANG

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục cho chúng tôi, câu hỏi của anh được trả lời như sau:

Thứ nhất, vấn đề sa thải được quy định tại Điều 85, Bộ luật lao động như sau:

1- Hình thức xử lý kỷ luật sa thải chỉ được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp;

b) Người lao động bị xử lý kỷ luật chuyển làm công việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật;

c) Người lao động tự ý bỏ việc bảy ngày trong một tháng hoặc 20 ngày trong một năm mà không có lý do chính đáng.

2- Sau khi sa thải người lao động, người sử dụng lao động phải báo cho cơ quan lao động cấp tỉnh biết.

Khi đó, quyết định kỷ luật sa thải của người sử dụng lao động chỉ được thừa nhận là hợp pháp khi quyết định đó vừa đúng về căn cứ được quy định tại khoản 1 Điều 85 Bộ luật Lao động  lại vừa đảm bảo được quy định về thời hiệu xử lý kỷ luật ( Điều 86 Bộ luật Lao động) cũng như thủ tục xử lý kỷ luật ( Điều 87 Bộ luật Lao động). Nếu người sử dụng lao động không tuân thủ đúng các quy định đó sẽ bị coi là đã sa thải trái pháp luật.

Do đó, nếu bạn không không có hành vi vi phạm kỷ luật thuộc một trong các trường hợp như trên thì anh A không có quyền sa thải bạn. Nếu anh A vẫn ra quyết định sa thải thì quyết định đó là trái pháp luật. Khi đó lao động sẽ phải nhận người lao động trở lại làm việc nếu họ có nhu cầu, bồi thường toàn bộ tiền lương cho người lao động trong thời gian không được làm việc cộng với 2 tháng tiền lương như trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với người lao động ( theo Điều 41 Bộ luật Lao động) đồng thời phải xin lỗi công khai đối với người lao động. Tức anh A sẽ phải nhận bạn trở lại làm việc nếu bạn muốn. và bồi thường tiền lương cho bạn trong thời gian bạn không làm việc, và ít nhất hai tháng tiền lương.

Còn đối với trường hợp bạn đang mang thai thì được quy định tại như sau:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 111 BLLĐ, trong thời gian mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người lao động nữ vi phạm kỷ luật lao động nêu tại Nội quy lao động của doanh nghiệp hoặc Bộ luật Lao động được kéo dài thời hiệu xem xét kỷ luật lao động hoặc được tạm hoãn việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.

 Như vậy, kể cả trong trường hợp bạn có hành vi vi phạm thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 85 Bộ luật lao động thì anh A cũng không thể sa thải bạn. Bạn sẽ được kéo dài thời hạn xem xét kỷ luật lao động.

Do vậy, trong cả trường hợp bạn có hành vi vi phạm, hay không có hành vi vi phạm kỷ luật lao động theo quy định tại Điều 85 thì anh A cũng không thể sa thải bạn. Nếu anh A vẫn ra quyết định sa thải thì quyết định đó là trái pháp luật. Bạn có thể đưa đơn kiện ra tòa án để đòi quyền  và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, Vấn đề cắt giảm lương. Như bạn đã biết, Bản chất của hợp đồng nói chung là sự thỏa thuận của các bên và hợp đồng lao động cũng không nằm ngoài điều đó. Vì vậy, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, các bên có thể tự thỏa thuận với nhau về việc bổ sung, thay đổi… các nội dung đã được ký kết trong hợp đồng. Ngay trong Bộ luật Lao động cũng quy định rất rõ tại Điều 33 - Khoản 2 như sau:

Điều 33 - khoản 2: Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất ba ngày. Việc thay đổi nội dung hợp đồng lao động được tiến hành bằng cách sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động đã giao kết hoặc giao kết hợp đồng lao động mới. Trường hợp hai bên không thỏa thuận được việc sửa đổi, bổ sung hoặc giao kết hợp đồng mới thì tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết hoặc chấm dứt theo quy định tại K3-Điêù36 của Bộ luật này.

Tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2003 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về Hợp đồng lao động quy định :

Điều 8-Khoản 2: Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu một bên có yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng lao động phải báo trước cho bên kia biết trước ít nhất ba ngày. Khi đã chấp thuận thì hai bên tiến hành sửa đổi, bổ sung nội dung thủ tục thay đổi hợp đồng theo hướng dẫn của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hoặc ký kết hợp đồng lao động mới. Trong thời gian tiến hành thỏa thuận hai bên vẫn phải tuân theo hợp đồng đã ký kết.Trường hợp hai bên không thỏa thuận được thì tiếp tục thực hiện hợp đồng đã giao kết hoặc thỏa thuận chấp dứt hợp đồng lao động theo quy định tại K3-Điều 36 của Bộ Luật Lao động.

Hiện công ty bạn có yêu cầu thay đổi nội dung đã ký kết trong Hợp đồng mà không báo trước cho bạn (ít nhất là 3 ngày), đồng thời không tiến hành thỏa thuận và chưa có sự đồng ý của bạn mà công ty đã áp dụng mức lương mới là không đúng với quy định của pháp luật hiện hành. Bạn có thể yêu cầu công ty hoàn trả đủ tiền lương 17 triệu đã ký kết trong hợp đồng.

 

Ý kiến trả lời bổ sung:

Bạn thân mến, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi! Với câu hỏi của bạn tôi xin được tư vấn cho bạn như sau:

- Anh B có quyền quyết định sa thải tôi hay không khi tôi đang mang thai.

Điều 85, Bộ Luật lao động sửa đổi bổ sung năm 2007 qui định:

“1. Hình thức xử lý kỷ luật sa thải chỉ được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích doanh nghiệp;

b) Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương, chuyển làm công việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật, hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm;

c) Người lao động tự ý bỏ việc năm ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong một năm mà không có lý do chính đáng”

Pháp luật chỉ cho phép người sử dụng lao động sa thải người lao động khi người lao động vi phạm kỉ luật một trong ba trường hợp như trên mà thôi. Chính vì thế anh B ra quyết định sa thải bạn là vi phạm qui định của pháp luật vì bạn không thuộc một trong ba trường hợp mà luật đã qui định tại khoản 1, điều 85, Bô Luật lao động (sửa đổi, bổ sung năm 2007).

Mặt khác khoản 3, điều 111, Bộ Luật lao động cùng qui định rõ: Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. Do đó anh B cũng không thể lấy lý do bạn mang thai để sa thải bạn được.

          Như vậy anh B hoàn toàn không có căn cứ để ra quyết định sa thải bạn. Bởi lẽ bạn không nằm trong trường hợp mà luật qui định ở khoản 1, điều 85, lý do lấy việc bạn đang mang thai để sa thải bạn cũng bị pháp luật cấm. quyền lợi của bạn trong trường hợp anh B ra quyết định sa thải trái pháp luật sẽ được giải quyết theo  qui định tại điều điều 41, Bộ luật lao động. Bạn có thể tham khảo thêm điều này.

- Nếu anh B vẫn khăng khăng sa thải tôi hoặc không sa thải nhưng không phân công công việc cho tôi như hiện tại và tiếp tục cắt giảm lương của tôi thì tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?

 Nếu anh B vẫn khăng khăng sa thải bạn thì như tôi đã tư vấn cho bạn ở trên bạn hoàn toàn có thể khởi kiện ra tòa án việc anh B sa thải bạn mà không cần phải qua thủ tục hòa giải ở Hội đồng hòa giải cơ sở. Thời hiệu khởi kiện về việc anh B ra thải bạn là một năm tính từ ngày anh B ra quyết định ra thải bạn. Bạn có thể tham khảo thêm điều 166, 167, Bộ Luật lao động (sửa đổi, bổ sung năm 2007).

Nếu anh B không sa thải nhưng không phân công công việc cho bạn như hiện tại và liên tục cắt giảm lương của bạn có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình như sau:

Khoản 3, điều 8, Bộ Luật lao động sửa đổi, bổ sung năm 2007 qui định:

“3– Người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và những thỏa thuận khác với người lao động, tôn trọng danh dự, nhân phẩm và đối xử đúng đắn với người lao động.”

Vì vậy bạn không bị xử lý kỉ luật theo điểm b, khoản 1, điều 84, không nằm trong trường hợp qui định tại điều 34, Bộ luật lao động thì việc anh B ra quyết định chuyển bạn sang làm công việc khác và trả lương cho bạn 4,5 triêu đồng/ tháng là vi phạm qui định của pháp luật: người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó bạn có thể yêu cầu tổ chức công đoàn công ty (trong trường hợp công ty có tổ chức công đoàn) can thiệp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bạn hoặc yêu cầu hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động giải quyết. Nếu hòa giải không thành bạn có thể khởi kiện ra tòa án về việc anh B không thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng.

- Nếu buộc phải thôi việc, tôi phải làm gì để không bị thiệt thòi khi xin thôi việc.

  - Trường hợp của bạn bạn hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với công ty  theo qui định tại khoản 3, Điều 37, Bộ luật lao động (sửa đổi, bổ sung năm 2007).Việc bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng như vậy sẽ có lợi hơn cho bạn khi đi tìm việc làm mới. Bởi lẽ công ty là bên có lỗi khi không thực hiện đúng theo hợp đồng lao đồng và bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Điều này hoàn toàn khác với việc bạn bị xử lý kỷ luật sa thải. Bởi sa thải tức là lỗi thuộc về bạn. Như vậy sẽ bất lợi cho bạn khi đi tìm việc về sau.

- Hợp đồng lao động mà bạn ký kết với công ty là hợp đồng lao động không thời hạn vì vậy khi đơn phương chấm dứt hợp đồng với công ty bạn phải báo trước cho công ty ít nhất 45 ngày. Như vậy việc chấm dứt hợp đồng lao động của bạn với công ty là hoàn toàn hợp pháp do đó theo qui định tại điều 42 Bộ Luật lao động, công ty sẽ phải trả trợ cấp thôi việc cho bạn nếu như bạn đã làm việc tại công ty từ đủ 12 tháng trở lên. Theo đó mức trợ cấp thôi việc mỗi năm bạn làm việc là một tháng lương + phụ cấp lương nếu có. Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động công ty sẽ phải thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của bạn, trong trường hợp đặc biết có thể kéo dài không quá 30 ngày.

- Công ty sẽ phải trả sổ lao động cho bạn và không được nhận xét bất kỳ điều gì trở ngại cho bạn trong việc tìm việc làm mới (bạn có thể tham khảo thêm điều 43, Bộ Luật lao động)

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê