Cụ thể: Việc xây dựng công trình, nhà ở trên đất nông nghiệp sẽ áp dụng hình thức xử phạt được quy định tại khoản 1, điều 8, chương II của Nghị định 105/2009/NĐ-CP (đối với trường hợp xây dựng nhà ở trên đất ở thì không bị xử phạt). Thẩm quyền ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tịch thu phương tiện vi phạm hành chính và buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm là cấp xã, phường hoặc huyện, thành phố đều có thẩm quyền (chỉ khác ở số tiền). Tuy nhiên, theo Thông tư 16/2010/TT-BTNMT ngày 26/8/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì đối với trường hợp tháo dỡ nhà ở, công trình xây dựng trái phép trên đất thì người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính để buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm, bao gồm: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Tôi có lập biên bản VPHC và ban hành Quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai đối với hành vi “sử dụng đất không đúng mục đích: tự ý xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp” vi phạm vào điểm a, khoản 1, điều 8, chương II của Nghị định 105/2009/NĐ-CP, cùng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc Chủ đầu tư khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm. Sau thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận Quyết định xử phạt, Chủ đầu tư không chấp hành quyết định nên tôi có văn bản đề xuất UBND thành phố ban hành Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do vượt thẩm quyền. Quy trình xử lý hồ sơ như vậy có đảm bảo trình tự của pháp luật quy định không?

Ngược lại, có 01 số ý kiến cho rằng: thẩm quyền ban hành Quyết định cưỡng chế đối với trường hợp tháo dỡ nhà ở, công trình xây dựng trái phép trên đất là của cấp huyện (tương đương thành phố) thì cấp huyện (thành phố) cũng là cấp ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp xây dựng nhà ở, công trình xây dựng trái phép trên đất. Ý kiến này có đúng quy định pháp luật không? và trong quyết định cưỡng chế thì áp dụng nghị định 166 về cưỡng chế hay thông tư 16 ?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật đất đai  của công ty Luật Minh Khuê.

 Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến1900.6162

Trả lời:

Kính chào và cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

 

I Cơ sở pháp lý:

>> Xem thêm:  Cách giải quyết tranh chấp hợp đồng tặng cho đất đai ? Mua bán nhà đất cần những giấy tờ gì ?

Nghị định 102/2014/NĐ-CPQuy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Nghị  định số 166/2013/NĐ-CP Quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Thông tư 16/2010/TT-BTNMT Quy định quy trình thủ tục cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

II Nội dung trả lời:

Hiện nay thì Nghị định 105/2009/NĐ-CP đã được thay thế bởi nghị định 102 /2014/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Nên việc bạn hỏi nếu hiện tại áp dụng Nghị định 105/2009/NĐ-CP thì không đúng vì nghị định này bây giờ đã hết hiệu lực. theo quy định của pháp luật thì việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được thực hiện theo quy định tại Nghị đinh 102/2014/NĐ-CP.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định 102 /2014/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Điều 6. Chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép

3. Chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép dưới 0,5 héc ta;

b) Phạt tiền từ trên 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép từ 0,5 héc ta đến dưới 03 héc ta;

>> Xem thêm:  Cách giải quyết tiền đền bù đất khi có tranh chấp ? Mức thuế khi chuyển mục đích sử dụng đất ?

c) Phạt tiền từ trên 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép từ 03 héc ta trở lên.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này;

b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này.

 Như vậy trường hợp bạn nói cá nhân đó đã xây nhà và công trình trên đất nông nghiệp nên họ sẽ vi phạm quy định  tại khoản 3 trên. Theo Điều 31 khoản 2 thì thẩm quyền xử phạt vi phạm thuộc về ủy ban nhân dân huyện

Điều 31. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong việc xử phạt vi phạm hành chính

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

>> Xem thêm:  Tranh chấp đền bù đối với đất giải tỏa chưa có sổ đỏ ? Quy định về thu hồi đất theo luật ?

d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản này;

đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; buộc trả lại đất đã lấn, chiếm; buộc làm thủ tục đính chính Giấy chứng nhận bị sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung; buộc hủy bỏ giấy tờ giả liên quan đến việc sử dụng đất; buộc trả lại diện tích đất đã nhận chuyển quyền do vi phạm.

Điều 34. Biên bản và thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính

1. Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai được lập theo quy định tại Điều 58 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính.

2. Người có thẩm quyền lập biên bản gồm:

a) Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định tại các Điều 31, 32 và 33 của Nghị định này;

b) Công chức, viên chức thuộc các cơ quan quy định tại các Điều 31, 32 và 33 của Nghị định này đang thi hành công vụ, nhiệm vụ.

Như vậy thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không được nhà nước cho phép thuôc về chủ tịch ủy ban nhân dân huyện. Việc cưỡng chế tháo dỡ công trình trên đất phải được thực hiện theo đúng thủ tục trình tự theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 20/6/2012, Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

- Việc cưỡng chế chỉ được thực hiện khi có biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính và quyết định cưỡng chế. Trước khi tổ chức cưỡng chế, tổ chức ra quyết định cưỡng chế phải gửi quyết định cưỡng chế đến cá nhân (tổ chức) vi phạm và các cơ quan cấp trên để cùng thực hiện.

- Quyết định cưỡng chế phải thể hiện rõ các nội dung sau: ngày, tháng, năm ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ của người ra quyết định; họ tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế, các biện pháp khắc phục hậu quả phải thực hiện; thời gian hoàn thành cưỡng chế; cá nhân, cơ quan có trách nhiệm chủ trì tổ chức các hoạt động cưỡng chế; cơ quan có trách nhiệm tham gia; chữ ký và họ tên của người ra quyết định, dấu của cơ quan ra quyết định.

- Thời hạn thi hành quyết định cưỡng chế là 15 ngày, kể từ ngày nhận quyết định cưỡng chế; trường hợp quyết định cưỡng chế có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 15 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó.

Thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế hành chính trong lĩnh vực đất đai theo Thông tư 16/2010/TT-BTNMT:

"Điều 4. Thẩm quyền quyết định cưỡng chế hành chính trong lĩnh vực đất đai

3. Đối với trường hợp tháo dỡ nhà ở, công trình xây dựng trái phép trên đất thì người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính để buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm, bao gồm:

a) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện;

b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh".

Đối với trường hợp: sử dụng đất không đúng mục đích, Chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang đất phi nông nghiệp… trong trường hợp không phải tháo dỡ nhà ở hoặc công trình xây dựng trái pháp luật trên đất thì người ra quyết định cưỡng chế căn cứ vào điều kiện thực tế, khả năng phục hồi của đất, điều kiện về tài sản của đối tượng bị cưỡng chế để thuê tổ chức, cá nhân khác có đủ năng lực về chuyên môn, kỹ thuật thực hiện việc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm, khắc phục tình trạng làm suy giảm chất lượng đất, khắc phục việc thải chất độc hại vào đất. Chi phí trả cho việc thuê tổ chức, cá nhân khác được tạm ứng từ ngân sách nhà nước.

Trong thời hạn ba  ngày làm việc kể từ ngày thực hiện xong việc cưỡng chế, người ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm thông báo cho đối tượng bị cưỡng chế về số tiền phải hoàn trả lại ngân sách nhà nước. Trong thời hạn mười  ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của người ra quyết định cưỡng chế, đối tượng bị cưỡng chế có trách nhiệm hoàn trả chi phí cưỡng chế nêu trong thông báo. Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế không hoàn trả chi phí nói trên thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế: Khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập; khấu trừ tiền từ tài khoản tại các ngân hàng, các tổ chức tín dụng; kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá để thu hồi tiền tạm ứng từ ngân sách nhà nước.

Đối với các trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích, Chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang đất phi nông nghiệp… trong trường hợp phải tháo dỡ nhà ở hoặc công trình xây dựng trái pháp luật trên đất thì người ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm tổ chức lực lượng, phương tiện và yêu cầu các cơ quan có liên quan phối hợp để cưỡng chế tháo dỡ nhà ở, công trình xây dựng trên đất. Chi phí cưỡng chế hành chính được tạm ứng từ ngân sách nhà nước.

Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thực hiện xong việc cưỡng chế, người ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm thông báo cho đối tượng bị cưỡng chế về số tiền phải hoàn trả lại ngân sách nhà nước. Đối tượng bị cưỡng chế có trách nhiệm hoàn trả chi phí cho việc cưỡng chế trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của người ra quyết định cưỡng chế. Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế không hoàn trả chi phí nói trên thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế: Khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập; khấu trừ tiền từ tài khoản tại các ngân hàng, các tổ chức tín dụng; kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá để thu hồi tiền tạm ứng từ ngân sách nhà nước.

Về tổ chức thi hành cưỡng chế bạn có thể tham khảo thêm tại Điều 34 Nghị Định 166/2013/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Như vậy bạn phải áp dụng cả nghị định 166/2013/NĐ-CP  và Thông tư 16/ 2010/TT-BTNMT để tổ chức thực hiện cưỡng chế

>> Xem thêm:  Tranh chấp khởi kiện mua bán đất nông nghiệp ? Tư vấn thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho con ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai. 

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Xử lý tranh chấp quyền sở hữu nhà ở ?