>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi:   1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Ảnh minh họa

 

Trả lời:

Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, (luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009) có quy định chi tiết về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội khi thủ đoạn gian dối xuất hiện ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản. (Xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt). Trường hợp của chị, do chị không nêu rõ bạn của chị vay tiền của chị sử dụng vào mục đích gì; có xác lập một hợp đồng vay mượn tài sản hay không?; mối quan hệ của hai người như thế nào?... Do đó, cần phải xem xét: việc bạn cùng nơi làm việc với chị vay tiền của chị nay không trả, nếu hành vi vay tiền ngay từ ban đầu đã có thủ đoạn gian dối (ví dụ như nói sai về mục đích vay…), và ngay sau khi nhận được tiền từ chị, bạn của chị dời khỏi nơi làm việc và chị không liên lạc được nữa… tổng hợp các hành vi đó cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS
Trường hợp mà việc bạn chị vay tiền hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn..) và sự tín nhiệm (quen biết..). Sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn bỏ trốn, đánh tráo, không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp…thì hành vi này cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 BLHS.
Từ những điều đó, chị nên xem xét để biết hành vi của bạn chị vi phạm Điều 139 hay Điều 140 BLHS.

Ý kiến bổ sung:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi, thắc mắc của bạn, tôi xin được giải đáp như sau:
Theo quy định tại Điều 140 Bộ
Bộ luật hình sự năm 1999, (luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009) về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thì:
“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
…”
Theo quy định trên thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Như vậy bạn có thể làm đơn tố cáo người bạn đó với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Dựa trên những quy định trên, hy vọng rằng chúng tôi đã góp phần làm rõ những vướng mắc của bạn, cảm ơn bạn đã sử dụng dịch vụ của công ty Luật Minh Khuê.
Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê