Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162 

 

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

 1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009

Bộ luật dân sự năm 2005

2. Nội dung tư vấn

 Có hai trường hợp sau: 

- Thứ nhất, nếu bạn làm nội dung đơn kiện là thỏa thuận đất đai, mà việc làm tăng diện tích của đất thổ cư lên không đúng hiện trạng với diện tích đất thực tế nên đây là hành vi vi phạm pháp luật, do đó căn cứ quy định tại  điều 128, Bộ luật dân sự năm 2005: 

" Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội  

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể  thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng". 

Do đó, hợp đồng trên của bạn và người hàng xóm bị vô hiệu, Tòa án sẽ yêu cầu người hàng xóm trả lại tiền cho bạn và bạn phải phần đất thổ cư tăng thêm 100m2 trái pháp luật trong sổ đỏ sẽ bị hủy bỏ của cơ quan địa chính. Đồng thời, hành vi vi phạm của Bạn và người hàng xóm có thể chịu trách nhiệm hình sự về các tội đưa hối lộ ( điều 289); tội môi giới hối lộ ( điều 290) hoặc tội nhận hối lộ ( điều 279) Bộ luật hình sự năm 1999. 

- Thứ hai, nếu bạn ghi nội dung đơn kiện là thỏa thuận vay tiền và yêu cầu người hàng xóm khi trình bày nội dung thỏa thuận cũng là  vay tiền và quá trình điều tra của công an không phát hiện ra việc thỏa thuận đất đai này thì Tòa án sẽ yêu cầu người hàng xóm trả tiền cho bạn căn cứ theo quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 140, Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009, đó là: 

" Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

.................................". 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng/.

Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật Dân sự