Nhưng sau khi vay tiền của tôi bây giờ anh A đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú mà tôi không thể liên lạc được. Trước khi vay tiền của tôi anh A nói dối là ngôi nhà của anh chưa bán nhưng trên thực tế anh ta đã làm hợp đồng chuyển nhượng rồi và chỉ chờ vay tiền của tôi rồi bỏ trốn. Vậy trong trường hợp này tôi phải làm gì để đòi lại tiền thưa Luật sư?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Hoàng A

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời: 

Thưa quý khách hàng, Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 (văn bản mới: bộ luật dân sự năm 2015)

Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 (Văn bản mới: bộ luật hình sự năm 2015)

2. Luật sư tư vấn: 

Theo những thông tin mà bạn cung cấp thì bạn đã cho anh A vay 200 triệu bằng giấy viết tay giữa hai bên không có công chứng. Như vậy hợp đồng vay của bạn vẫn được pháp luật công nhận bởi pháp luật không quy định về yêu cầu hionhf thức của hợp đồng vay tài sản. Cụ thể theo quy định tại Điều 471 BLDS 2005 có quy định:

Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Như vậy theo quy định tại Điều 401 BLDS 2005 về hình thức của hợp đồng dân sự thì:

Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự

1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Như vậy hợp đồng vay của bạn được coi là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Hiện nay anh A đã bỏ trốn và không trả tiền cho bạn và theo thông tin bạn cung cấp thì trước khi vay tiền của bạn anh A đã có hành vi gian dối để bạn đồng ý cho vay tiền. Hành vi này của anh A có dấu hiệu của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 BLHS 2009 như sau:

Điều 139*. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

Đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

E) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân :

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Vì vậy nếu như hành vi gian dối của anh A có trước hành vi chiếm đoạt tài sản của bạn thì sẽ cấu thành đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS 2009. 

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì bạn có thể làm đơn tố cáo ra cơ quan công an cấp huyện để được giải quyết. Kèm theo đơn tố cáo thì bạn phải cung cấp được các chứng cứ chứng minh cho việc bạn cho anh A vay tiền và anh A có hành vi gian dối trước khi chiếm đoạt 200 triệu của bạn cũng như anh A có hành vi bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền đó.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ emailTư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến1900.6162 Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê