Từ tháng 2.2009 bố mẹ chồng tôi làm thủ tục trao tặng đất thổ cư cho vợ chồng tôi có diện tích là 198m2 bây giờ giấy quyền sử dụng đất mang tên chồng tôi và tôi, từ lúc làm thủ tục đến nay đất không có tranh chấp, trong thủ tục trao tặng không kèm điều kiện gì. Đến năm 2010 bố chồng tôi chết, bà mẹ chồng vẫn ở với tôi, lương bà được 1.500.000 lúc khoẻ bà phụ cho tôi 1 tháng 600.000đ, lâu nay bà ốm đau tôi không lấy tiền ăn của bà nữa và vẫn chăm sóc phụng dưỡng bà. Đến năm 2013 chồng tôi chết không để lại di chúc gì, bà vẫn ở với tôi, tôi vẫn chăm sóc phụng dưỡng bà và nuôi con trai đang học năm thứ 2 đại học. Nay do đất có gi, mọi người xúi dục mẹ chồng tôi nên mẹ chồng tôi đòi chia đất, lúc bà bảo để có chỗ thắp hương, lúc bà bảo để ốm đau bán đi thuốc thang. Có lần anh chồng tôi say rượu về nói với tôi là mảnh đất này phải được chia 1 phần. Ngoài phần đất thổ cư nói trên bố mẹ chồng tôi còn có 1 phần đất vườn (có giấy CNQSD đất mang tên bố chồng tôi). khi vợ chồng tôi cưới nhau và về ở chung với ông bà thì anh trai chồng tôi nói với vợ chồng tôi anh chị không về đây ở đâu, chú thím ở với ông bà, chịu khó vun vén thì đất này là của chú thím nên vợ chồng tôi đã mua đất về lấp ao vườn để có mặt bằng đẹp như hiện nay. Năm 2002 bố mẹ chồng tôi đã cho anh chồng tôi miếng đất đó để xây nhà (hiện anh chồng tôi đã xây nhà 2 tầng trên mảnh đất này) nhưng chưa làm thủ tục sang tên, tuy nhiên anh chồng tôi không nói gì về số tiền mà vợ chồng tôi bỏ ra để lấp ao vườn.

Tôi xin hỏi luật sư: 

1. Bìa đỏ mang tên chồng tôi và tôi, đầy đủ thủ tục trao tặng, đất không tranh chấp vậy bà mẹ chồng tôi đòi chia đất như vậy có đúng không? Bà có quyền đòi lại đất không

2. Nếu phải chia thì chia thế nào? (Tôi có 2 con: 01 cháu gái đã xây dựng gia đình, 01 cháu trai đang học đại học năm thứ 2) con gái đi xây dựng gia đình có được chia không?

3. Thời gian bố mẹ chồng trao tặng QSDĐ cho vợ chồng tôi đã được 7 năm, vây bao nhiêu năm thì hết hiệu lực kiện và đòi lại đất?

4. Anh chồng tôi có quyền đòi đất trong phần đất đứng tên vợ chồng tôi hay không?

5. Đối với mảnh đất vườn kia vợ chồng tôi có quyền lợi gì thừa kế của bố chồng tôi không? (vì đất chưa sang tên anh chồng tôi)

Tôi xin cảm ơn!

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật Dân sự của công ty Luật Minh khuê.

>> Luật sư tư vấn trực tiếp pháp luật dân sự: 1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai năm 2013

Bộ luật dân sự năm 2005

Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Nội dung phân tích:

1/ Theo quy định tại Điều 467 BLDS, thì:

“1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu;

2. Hợp động tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.”

Bên cạnh đó, Điều 692, Bộ luật dân sự 2005 quy định việc chuyển quyền sử dụng đất như sau:

“Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Như vậy, trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất phải được thực hiện thành văn bản có công chứng, chứng thực, phải đăng ký quyền sở hữu.

Trường hợp việc tặng cho đã hoàn tất, việc chuyển quyền sở hữu đã xong thì tài sản đã thuộc về người được tặng cho, người tặng cho không thể đòi lại.

Trong trường hợp của bạn, vợ chồng bạn đã đi làm sổ đỏ đối với mảnh đất mà bố mẹ chồng bạn trao tặng cho vợ chồng bạn, điều này đồng nghĩa với việc tặng cho quyền sử dụng đất của bố mẹ chồng bạn và vợ chồng bạn đã hoàn tất, do đó, vợ chồng bạn đã đăng ký giấy chứng nhận quyền sở hữu rồi nên mẹ chồng bạn sẽ không có quyền đòi lại phần mảnh đất này.

2/ Về vấn đề thứ 2 bạn hỏi nếu phải chia thì chia thế nào? Thì câu hỏi này của bạn chúng tôi được hiểu là thắc mắc của bạn Về di sản thừa kế của chồng bạn: 

Theo thông tin bạn cung cấp thì chồng bạn đã mất vào năm 2013. Tài sản chung của vợ chồng bạn là một miếng đất thổ cư có diện tích là 198m2 được bố mẹ chồng tặng cho đã hoàn tất thủ tục và có giấy chứng nhận quyền sở hữu. Khi đó, 1/2 mảnh đất vườn sẽ được coi là di sản thừa kế do chồng bạn để lại.

Vì chồng bạn khi chết không để lại di chúc nên di sản được chia theo pháp luật, những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 676 BLDS được quy định theo thứ tự sau đây:

"a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản".

Đối chiếu với quy định nêu trên và với thông tin bạn cung cấp thì tại thời điểm mở thừa kế, hàng thừa kế thứ nhất của chồng bạn bao gồm: người mẹ, bạn và 2 người con. Di sản thừa kế của chồng bạn sẽ được chia đều cho người mẹ, bạn và 2 người con của bạn.

3/ Về thời hiệu khởi kiện:

Căn cứ Điều 159 Bộ luật dân sự 2005, quy định: Bắt đầu thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự  

1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự:

Theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 3 điều 23 của Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì được hiểu như sau:

 - Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản, đòi lại quyền sử dụng đất do người khác quản lý, chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tức là không bị hạn chế thời hạn khởi kiện.

- Đối với các tranh chấp khác (không thuộc loại tranh chấp nêu trên) thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người kiện đòi tài sản phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đòi tài sản của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Như vậy, thì trường hợp của bạn thuộc trường không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tức là không bị hạn chế thời gian khởi kiện.

Việc bạn có phải chia thửa đất hay không phụ thuộc vào những căn cứ mà nguyên đơn đưa ra có đủ cơ sở chứng minh họ là chủ sở hữu, chủ sử dụng hợp pháp tài sản mà họ đang kiện đòi hay không và yêu cầu kiện đòi của họ có phù hợp với quy định của pháp luật về kiện đòi tài sản hay không. Nếu các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình không đủ giá trị chứng minh thì yêu cầu của họ cũng không được tòa án chấp nhận.

4/ Anh chồng chị không có quyền đòi phần mảnh đất đứng tên vợ chồng bạn, vì trong trường hợp này phần mảnh đất đó như đã phân tích ở mục 1 là việc trao tặng cho mảnh đất giữa bố mẹ chồng bạn và vợ chồng bạn đã hoàn tất, việc chuyển quyền sở hữu đã xong thì tài sản đã thuộc về người được tặng cho, thì anh chồng bạn không có quyền đòi phần mảnh đất này.

5/ Đối với mảnh đất của bố chồng bạn chết không để lại di chúc và cũng chưa sang tên ai, thì:

Căn cứ Điều 636 BLDS quy định: Kể từ thời điểm mở thừa kế (tức là thời điểm bố chồng bạn chết), những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.Tuy nhiên, sau khi bố chồng bạn mất thì một thời gian sau chồng bạn cũng mất. Như vậy, tại thời điểm mở thừa kế thì chồng bạn vẫn còn sống và có quyền hưởng di sản thừa kế do người cha để lại. Nhưng khi chồng bạn còn còn sống, các thừa kế vẫn chưa tiến hành khai nhận di sản thừa kế của người cha, và nay chồng bạn đã chết thì phần di sản mà chồng bạn được hưởng sẽ được chia đều cho các thừa kế của chồng bạn. Các thừa kế có thể được xác định theo di chúc (nếu chồng bạn chết để lại di chúc). Nhưng do chồng bạn chết không để lại di chúc thì những người thừa kế thuộc hàng thừ kế thứ nhất theo pháp luật tại Điều 676 Bộ luật dân sự như nêu ở trên mục 2 sẽ được hưởng là bạn và 2 người con của bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                     

Bộ phận luật sư đất đai.