Bên kia nói mượn vài tháng sẽ trả nhưng mà sau vài tháng thì nói là không có tiền trả, có chủ ý muốn không thanh toán với bên chúng tôi. Gia đình chúng tôi đã cho bên kia cơ hội nhiều lần là có thể thanh toán từ từ không phải trả hết 1 lượt, nhưng bên kia cứ hẹn lần hẹn lựa đến nay hơn 1,5 năm rồi. Gia đình tôi rất bức xúc, muốn nhờ luật pháp giải quyết nhưng biết làm sao khi chúng tôi không có bằng chứng. tư vấn pháp luật có thể giúp chúng tôi được k ạ! Nếu tôi dùng ghi âm và hỏi bên kia ràng có mượn chúng tôi k? khi nào trả nếu bên kia không trả thì chúng tôi có thể dùng làm bằng chứng k? tư vấn pháp luật xem rồi giúp tôi nhé!

Xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ
Hi vọng sẽ nhận được câu trả lời sớm nhất có thể
Người gửi:  hanh pham
 

Trả lời

Ý kiến thứ nhất:

"Theo Điều 81 Bộ luật tố tụng dân sự, Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Toà án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.

Ngoài ra, Điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định về xác định chứng cứ như sau:

1. Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.

2. Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.

3. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.

4. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình…

5. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định.

7. Tập quán được coi là chứng cứ nếu được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận.

8. Kết quả định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định hoặc văn bản do chuyên gia về giá cả cung cấp theo quy định tại khoản 1 Điều này."

Như vậy, nếu băng ghi âm của bạn thoả mãn các điều kiện trên thì mới được coi là chứng cứ.

 Băng ghi âm có thể xem là chứng cứ xác định khoản vay nợ không?

Băng ghi âm có phải là bằng chứng hợp pháp không - Ảnh minh họa

Ý kiến thứ hai:

Theo quy định tại Điều 82 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005 thì nguồn chứng cứ lại được quy định như sau:

“Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

1. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; …”.

Tại Điều 82 BLTTDS thì có thể thấy nguồn chứng cứ trong Luật Tố tụng dân sự chỉ được quy định trong 8 nguồn chính, ngoài 8 nguồn chứng cứ này Toà án không sử dụng thêm bất cứ nguồn chứng cứ nào khác để thu thập làm chứng cứ cho việc giải quyết các vụ việc dân sự. Nhưng với qui định về nguồn chứng cứ này, qua đó có thể thấy được nguồn chứng cứ trong Luật Tố tụng dân sự có mớ rộng hơn nguồn chứng cứ trong TTHS (nhất là nguồn chứng cứ thứ nhất “các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được”- khoản 1, Điều 82 BLTTDS năm 2005) chính từ quy định này cho thấy, nguồn chứng cứ do “ghi âm”, “thu hình” ít nhiều được ghi nhận làm căn cứ pháp lý để giải quyết cũng như xác định sự thật của vụ án, giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố và xét xử một cách thuận lợi hơn. Đồng thời, cũng tại khoản 9 Điều 82 BLTTDS năm 2005 còn quy định: “Các nguồn khác mà pháp luật có qui định” điều này là rất cần thiết, đồng thời cũng cần được hiểu đây chính là một quy định dự phòng của pháp luật chứ không nên hiểu đây là một quy định mở để Toà án áp dụng trong quá trình thu thập chứng cứ giúp cho việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, các qui định về chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005 cũng có đề cập tới vấn đề không phải bất kỳ tài liệu, dữ liệu..nào cũng có thể được thu thập từ các nguồn chứng cứ cũng được đem vào làm chứng cứ trong vụ án. Mà tại khoản 2 Điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 đã có quy định cụ thể về điều kiện để xác định nguồn chứng cứ của vụ án được quy định như sau: “Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của các tài liệu đó hoặc văn bản về sự liên quan tới việc thu âm, thu hình đó”.

Như vậy, trong luật tố tụng dân sự cũng đã có sự ghi nhận về nguồn chứng cứ, chứng cứ bằng “ghi âm”, “ghi hình” hoặc có liên quan đến việc thu âm, ghi hình; đồng thời cũng đã có một quy định chặt chẽ về điều kiện để nguồn chứng cứ, về chứng cứ bằng ghi âm, ghi hình được thừa nhận, và trở thành chứng cứ hợp pháp tại phiêntoà khi nó đáp ứng đúng và đủ hai điều kiện được quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 83 của Bộ luật này. Có thể nói rằng đây là một quy định hợp lý và rất cần thiết để thừa nhận sự hợp pháp của chứng cứ có liên quan đến việc ghi âm, thu băng- ghi hình vì nguồn gốc hình thành và giám định cũng như môi trường tác động đối với nguồn chứng cứ này là rất phức tạp, nhất là trong điều kiện của Việt Nam hiện nay.

Có một hạn chế là Pháp luật nước ta chưa có sự ghi nhận và đề cao, chú trọng tới “nguồn chứng cứ”, tới “chứng cứ” thu thập được có liên quan tới việc “ghi âm”, “thu băng, thu hình”; đồng thời cũng chưa có sự ghi nhận và đề cao vị trí vai trò cũng như tầm quan trọng của nguồn chứng cứ, và chứng cứ thu thập được trong quá trình ghi âm, thu băng - thu hình làm bằng chứng cho việc điều tra, truy tố, chứng minh và giải quyết vụ án hình sự.

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư dân sự - Công ty luật Minh Khuê

----------------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

2. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

3.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

4. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;

7. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;

8. Dịch vụ luật sư tư vấn trực tuyến qua tổng đài 1900 6162;