Tôi dọa đánh vẫn không đi có thái độ sừng sộ tôi bực quá lượm cành cây hoa lay- ơn quất tới cho em đi nhưng em vẫn sấn tới tôi thái độ hung hăng đòi đánh tôi nên tôi lượm cành cây gần đó quất em lúc đó các em khác kêu người nhà leo tường vô trường đè tôi xuống đánh tới tấp đấm vào mặt tôi và kêu là đánh cho nó chết luôn gây thương tích cho tôi ở vùng mặt và mắt tôi choáng ngất, một lúc sau tôi mới biết đó là bà và cậu của em mà ở lại chống đối tôi. Tôi thấy tôi chỉ làm nhiệm vụ của mình là bảo vệ trường học, tránh những hỏa hoạn có thể xảy ra nhưng đã bị người nhà của em đánh gây ra thương tích cho tôi nặng nề vào ngày đầu năm mới và ảnh hưởng đến công việc bảo vệ trường của tôi. Vậy cho tôi hỏi tôi đánh các em như vậy tôi bị tội gi? Và người nhà em đánh lại tôi thì học phạm tội gi?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự dân sự,  gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009

- Bộ luật Dân sự 2005

2. ​Nội dung phân tích:

Theo quy định Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009), hành vi đánh người sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 104 như sau:
"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Có tổ chức;
g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Điều 105 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 

 1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu  tháng đến  hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm :

a) Đối với nhiều người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác.

Những trường hợp sau đây sẽ không bị truy cứu tránh nhiệm hình sự:
Không đủ một trong các yếu tố cấu thành tội phạm như:
+) Khách thể tội phạm: hành vi đánh người mà tỉ lệ thương tích chưa đạt đến 11% và thuộc một trong các trường hợp được quy định từ Điểm a đến Điểm K Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự;
+) Chủ thể tội phạm: Người thực hiện hành vi đánh người không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự:
1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
+) Khách quan của tội phạm: hành vi đánh người cũng sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu như thuộc các trường hợp sau:
Sự cố bất ngờ theo quy định tại Điều 11 Bộ luật hình sự:
“Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Phòng vệ chính đáng theo quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự:
“1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Tình thế cấp thiết theo quy định tại Điều 16 Bộ luật hình sự:
“1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm”.
2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.”
Tuy nhiên theo Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) thì những trường hợp cố ý gây thương tích quy định tại khoản 1 Điều 104 nói trên chỉ bị xử lý hình sự khi có yêu cầu của người bị hại. Theo đó thì nếu như các trường hợp đánh người mà thuộc Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự mà người bị hại không yêu cầu truy cưu trách nhiệm hình sự thì bạn cũng sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, nếu trường hợp bạn đánh học sinh A mà thuộc Điều 104 hoặc 105 Bộ luật Hình sự thi bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật về hành vi của mình. Còn nếu hnàh vi của bạn không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 104 và Điều 105 Bộ luật Hình sự mà các thuộc một trong các trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự ghi nhận ở trên thì bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Người lại, nếu hành vi của A và người thân của A thuộc quy định tại Điều 104 hoặc Điều 105 Bộ luật Hình sự thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Tuy nhiên, nếu hành vi của bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự nhưng lại gây ra thiệt hại thì bạn sẽ phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Dân sự.