Tôi có mua 1 căn nhà tại quận Cầu Giấy, Hà Nội. Căn nhà này là tài sản riêng của vợ (người chồng nhà đó đã ký giấy khước từ tài sản, thỏa thuận công chứng là tài sản riêng của vợ). Tôi đã làm hợp đồng mua bán sang tên, ủy quyền công chứng. Tôi gia hạn cho bà vợ kia sau 10 ngày phải chuyển đi. Tuy nhiên, sau 10 ngày tôi đến thu nhà thì bà vợ kia bỏ đi vì nợ nần nhiều, nhà cũng bán rồi. Còn ông chồng không hay biết vì bà vợ không thông báo. Tôi đã gọi điện cho bà vợ kia thì không liên lạc được. Tôi gọi cho ông chồng thì ông chồng nằng nặc không chịu dọn đi. Nay tôi phải làm sao để giải quyết trường hợp thu nhà này?

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty luật Minh Khuê.

Bên bán không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mua nhà.

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng!

 

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý: Bộ luật Dân sự 2005

Nội dung trả lời:

Điều 46 BLDS 2005 quy định quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở như sau:

"Cá nhân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

Việc vào chỗ ở của một người phải được người đó đồng ý.

Chỉ trong trường hợp được pháp luật quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của một người; việc khám xét phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định."

Theo như bạn trình bày thì có thể hiểu các giấy tờ có liên quan đến quyền sử dụng đất bên bán đã chuyển giao xong cho bên bạn chỉ còn đợi họ chuyển đi nữa thôi. Và do đây là tài sản riêng của người vợ nên hợp đồng mua bán nhà của bạn và bên bán không liên quan gì đến chồng của người bán. Nên khi thời gian bạn gia hạn cho bên bán phải chuyển đi đã hết mà chồng của người bán không chịu chuyển đi; nếu bạn tiếp tục thuyết phục mà người đó vẫn nhất quyết không chịu dọn đi thì hành vi của người này sẽ bị coi là xâm phạm chỗ ở của người khác theo quy định tại Điều 46 BLDS 2005. Trong trường hợp này, bạn nên thông báo đến các cơ quan có thẩm quyền như công an; UBND... để kịp thời giải quyết vấn đề này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.