C và D thì cầm điện thoại để quay video. B và C dọa là sẽ đăng lên Facebook. Cháu không nhận nhưng họ liên tục dùng từ ngữ dọa dẫm cháu. 2 tiếng trôi qua họ ép cháu. Cháu đã nhận và đưa cho A 1 triệu đồng để xong chuyện rồi cháu nói mai cháu sẽ dọn đi. Nhưng không dừng ở đó A nói E mất 2 triệu đồng và bắt cháu nhận. Vì họ quay video và cháu cũng sợ bị đánh nên phải nhận. Bây giờ A đang giữ của cháu 1 triệu đồng C dữ 1 triệu đồng và chứng minh thư của cháu. Cháu làm hợp đồng ở ký túc xá còn 2 tháng nữa mới hết thời hạn. Nhưng họ bắt cháu phải chuyển đi và phải trả nốt 1 triệu cho E nữa mới được trả chứng minh thư. Họ mất hay không cháu k biết nhưng họ toàn nói mồm và coi cháu như kẻ trộm và bắt cháu bồi thường . Cháu phải làm gì đây !!!! Giúp cháu với!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005.

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 

2. Nội dung tư vấn :

Thứ nhất: Trách nhiệm dân sự áp dụng như sau:

Nếu như bạn bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm từ A (người cùng ký túc xá), những nội dung xúc phạm được đăng tải công khai, ảnh hưởng trực tiếp đến danh dự của bạn. Vậy nên bạn có thể yêu cầu trực tiếp cải chính thông tin, yêu cầu bồi thường theo quy định của Điều 37 Bộ luật dân sự năm 2005:

"Điều 37. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín  

Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ."

Thứ hai: Trách nhiệm hình sự

Theo thông tin bạn cung cấp thì A và những người liên quan có thể bị xử lý hình sự đối với hành vi làm nhục người khác theo quy định tại Điều 121 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009:

"Điều 121.  Tội làm nhục người khác 

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Với hành vi của 4 người đó bạn có thể trình báo lên cơ quan quan công an có thẩm quyền về nội dung nêu trên để yêu cầu giải quyết. Trong trường hợp bạn muốn điều tra lại bạn có thể viết đơn yêu cầu gửi lên cơ quan công an. Nếu công an không giải quyết bạn có thể yêu cầu lên công an thanh tra cấp huyện để được giải quyết.

Điều 122 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tội vu khống:

"Điều 122.  Tội vu khống 

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a)  Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Phân tích cấu thành tội phạm:

Theo quy định trên, một hành vi sẽ bị coi là phạm tội vu khống khi có một trong các biểu hiện sau đây:

- Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

- Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

Lưu ý đối với cả hai trường hợp trên, nội dung của thông tin sai sự thực phải thể hiện sự xúc phạm đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Loan truyền thông tin sai sự thực có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác …Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thực thì hành vi không cấu thành tội phạm.

- Bịa đặt người khác là phạm tội và tố cáo họ trước các cơ quan có thẩm quyền. Đây là một dạng đặc biệt của hành vi vu khống. Đối với dạng hành vi này, tính nguy hiểm cho xã hội của tội vu khống phụ thuộc nhiều vào loại tội bị vu khống. Bộ luật Hình sự quy định vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng là cấu thành tăng nặng với mức hình phạt từ một năm đến bảy năm tù.

Đối với trường hợp của bạn việc danh dự của bạn bị bôi xấu nghi ngờ là ăn trộm tiền nhưng A không có chứng cứ gì chứng minh bạn ăn trộm, bên cạnh đó B dùng ô quật vào người bạn nhưng bạn đỡ được. C và D thì cầm điện thoại để quay video. B và C dọa là sẽ đăng lên Facebook. Bạn không nhận nhưng họ liên tục dùng từ ngữ dọa dẫm bạn 2 tiếng trôi qua họ ép bạn phải nhận. Như vậy, 4 người này đã cố tình đặt điều bôi xấu danh dự của bạn mặc dù không có chứng cứ đồng thời có hành vi dọa dẫm bạn nên để bảo vệ danh dự cho mình, bạn có thể làm đơn trình báo lên cơ quan điều tra yêu cầu điều tra làm rõ việc ăn cắp trộm tiền của A do ai thực hiện. Đồng thời nếu bạn có chứng cứ chứng minh được rằng bạn không ăn trộm tiền của A thì bạn có thể làm đơn trình báo về tội vu khống người khác đối với người này.

Ngoài ra, bạn có thể yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về hành vi cố ý gây thương tích của A theo quy định tại Điều 104 BLHS nếu tỷ lệ thương tật của bạn từ 11% trở lên hoặc đủ điều kiện khởi tố theo quy định tại Điều 104 BLHS.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê