Do sự bất cẩn trong quá trình vận chuyển,lô hàng của chúng tôi đã bị hư hỏng và thất lạc nghiêm trọng. Bên chúng tôi đã thuê giám định tại cảng Hong Kong và xác nhận: 17/32 thùng bị hư hại và mất mát nghiêm trọng.Giá trị hư hại lên tới gần 20,000 USD. Vậy luật sư cho chúng tôi hỏi, công ty vận chuyển có trách nhiệm bồi thường cho chúng tôi không? nếu có trách nhiệm sẽ nhu thế nào?

Xin chân thành cảm ơn, Luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực vận chuyển hàng không quốc tế?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự: 1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng!

 

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

I. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 

Bộ luật hàng hải 2005 

Luật thương mại 2005 

II. Nội dung tư vấn:

Bạn có trình bày, công ty bạn thuê công ty A vận chuyển lô hàng của bạn đi Hồng Kong. Quan hệ giữa 2 công ty là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nên về nguyên tắc sẽ áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam để giải quyết căn cứ vào quy định tại khoản 1, điều 769 Bộ luật dân sự 2005. ( do hiện tại chưa có hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Trung Quốc về thương mại)

Điều 769. Hợp đồng dân sự  

1. Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thoả thuận khác.

Hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Qua những gì bạn trình bày thì quan hệ giữa 2 công ty xác lập có thể là quan hệ vận chuyển hàng hóa hoặc quan hệ giao nhận hàng hóa ( quan hệ logistics). Đối với mỗi loại quan hệ sẽ có pháp luật tương ứng điều chỉnh.

Trường hợp thứ nhất, quan hệ giữa hai 2 công ty xác lập là quan hệ vận chuyển hàng hóa:

Căn cứ vào quy định tại khoản 1, điều 77 Bộ luật hàng hải 2005

Điều 77. Trách nhiệm của người vận chuyển, người vận chuyển thực tế và người làm công, đại lý

1. Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ quá trình vận chuyển theo quy định của Mục này mặc dù toàn bộ hoặc một phần của việc vận chuyển được giao cho người vận chuyển thực tế thực hiện. Đối với phần vận chuyển do người vận chuyển thực tế thực hiện, người vận chuyển phải chịu trách nhiệm về các hành vi của người vận chuyển thực tế và của người làm công, đại lý của người vận chuyển thực tế đảm nhiệm trong phạm vi công việc được giao.

Theo quy định này thì người vận chuyển sẽ phải chịu trách nhiệm nếu trong quá trình vận chuyển làm mất mát, hư hỏng tài sản vận chuyển. Tuy nhiên nếu trường hợp là mất mát, hư hỏng lô hàng hóa của bạn thuộc vào những trường hợp được quy định tại khoản 2, điều 78 của Bộ luật hàng hải 2005 thì người vận chuyển được miễn trách nhiệm.

Điều 78. Miễn trách nhiệm của người vận chuyển

2. Người vận chuyển được miễn hoàn toàn trách nhiệm, nếu tổn thất hàng hoá xảy ra trong các trường hợp sau đây:

a) Lỗi của thuyền trưởng, thuyền viên, hoa tiêu hàng hải hoặc người làm công của người vận chuyển trong việc điều khiển hoặc quản trị tàu;

b) Hoả hoạn không do người vận chuyển gây ra;

c) Thảm họa hoặc tai nạn hàng hải trên biển, vùng nước cảng biển mà tàu biển được phép hoạt động;

d) Thiên tai;

đ) Chiến tranh;

e) Hành động xâm phạm trật tự và an toàn công cộng mà bản thân người vận chuyển không gây ra;

g) Hành động bắt giữ của người dân hoặc cưỡng chế của Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác;

h) Hạn chế về phòng dịch;

i) Hành động hoặc sự sơ suất của người giao hàng, chủ sở hữu hàng, đại lý hoặc đại diện của họ;

k) Đình công hoặc các hành động tương tự khác của người lao động do bất kỳ nguyên nhân nào làm đình trệ hoàn toàn hoặc một phần công việc;

l) Bạo động hoặc gây rối;

m) Hành động cứu người hoặc cứu tài sản trên biển;

n) Hao hụt về khối lượng, trọng lượng hoặc mất mát, hư hỏng khác của hàng hoá xảy ra do chất lượng, khuyết tật ẩn tỳ hoặc khuyết tật khác của hàng hoá;

o) Hàng hoá không được đóng gói đúng quy cách;

p) Hàng hoá không được đánh dấu ký, mã hiệu đúng quy cách hoặc không phù hợp;

q) Khuyết tật ẩn tỳ của tàu biển mà những người có trách nhiệm không phát hiện được, mặc dù đã thực hiện nhiệm vụ một cách mẫn cán;

r) Bất kỳ nguyên nhân nào khác xảy ra mà người vận chuyển không có lỗi hoặc không cố ý gây ra tổn thất hoặc không phải do người làm công, đại lý của người vận chuyển có lỗi gây ra.

Trường hợp thứ hai: quan hệ giữa 2 công ty là quan hệ giao nhận hàng hóa ( quan hệ logistics)

Điều 238. Giới hạn trách nhiệm

1. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hoá.

Từ quy định này có thể thấy rằng khi có bất kỳ những tổn thất, hử hỏng, mất mát đối với hàng hóa thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ thuộc về bên thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Tuy nhiên trường hợp họ phải bồi thường sẽ không thuộc những trường hợp được miễn trách nhiệm theo quy định tại khoản 1, điều 237 Luật thương mại 2005.

Điều 237. Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

1. Ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hoá phát sinh trong các trường hợp sau đây:

a) Tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền;

b) Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền;

c) Tổn thất là do khuyết tật của hàng hoá;

d) Tổn thất phát sinh trong những trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật và tập quán vận tải nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức vận tải;

đ) Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận;

e) Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng.

Từ những phân tích trên có thể kết luận được rằng, trong hợp đồng nếu có thỏa thuận quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi làm mất mát, hư hỏng tài sản thì sẽ thực hiện theo thỏa thuận. Còn nếu không có thỏa thuận thì theo quy định của pháp luật, trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc người vận chuyển hoặc công ty A nếu không thuộc vào trường hợp được miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp

Trân trọng.
Bộ phận tư vấn luật dân sự.