Sau đó cán bộ thuế có trao đổi vì đây là loại phí thu không thường xuyên (không phải thu hàng tháng), thu một lần, số lượng người đăng ký kinh doanh rất ít (một năm chỉ được từ 01 đến 02 hộ) nên hướng dẫn tôi khi thật sự có nhu cầu thì đến liên hệ nhận lai thu phí, để lâu sợ mất mát, thất lạc, phải bị phạt, bồi thường… phần do cơ quan không đảm bảo cho việc lưu giữ nên tôi chưa nhận (có biên bản xác nhận nội dung này của cơ quan thuế). Việc này về cơ quan tôi có báo cáo nội dung lại cho thủ trưởng đơn vị và được chỉ đạo thực hiện như hướng dẫn (có biên bản xác nhận của trưởng phòng). Thời gian sau khi có một số hộ đến liên hệ đăng ký kinh doanh có nộp phí, tôi có xin ý kiến lãnh đạo và được chỉ đạo nhận tạm bằng biên nhận, sau đó liên hệ cơ quan thuế nhận lai để ra lai thu phí cho 12 hộ kinh doanh số tiền 39 triệu đồng, (không phải thu một lượt mà có khoảng cách thời gian thu của các hộ) trong lúc này đồng chí trưởng phòng mượn tiền thu phí này đi công tác 4,5 triệu đồng (có giấy ứng tiền), cũng chính vì việc mượn tiền của đồng chí trưởng phòng và day dưa không trả, kéo dài thời gian gần 8 tháng tôi mới qua cơ quan thuế nhận và ra lai khắc phục được 20 triệu đồng, còn 18 triệu chưa ra lai khắc phục được do có thanh tra đơn vị nên không cho ra lai, số tiền 18 triệu đồng. Tất cả số tiền thu được đều nộp vào ngân sách trước khi thanh tra? Hỏi hành vi đó có bị cho là tham nhũng không? Cố ý hay không cố không (vì mọi việc đều có báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo), hành vi chưa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của người khác, có phải là tham nhũng không? đã khắc phục tốt, thái độ thành khẩn trước thanh tra? Thanh tra áp dụng khoản 4, điều 4, Luật phòng, chống tham nhũng 2005 đối với tôi có đúng không? Xử lý hành chính có hình thức kỷ luật, cách chức có nặng lắm không? 

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự công ty Luật Minh khuê.

Cán bộ thuế mượn tiền kéo dài chưa trả thì có được coi là tham nhũng hay không ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ pháp lý 

Luật phòng, chống tham nhũng 2005 ( sửa đổi, bổ sung 2012)

Nghị định 59/2013/ NĐ - CP của Chính phủ, quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống tham nhũng

Nội dung tư vấn

Thứ nhất, hành vi của bạn có được coi là tham nhũng hay không ? Theo Khoản 2, Điều 3 Nghị định 59/2013/NĐ - CP quy định như sau:

Điều 3. Xác định các hành vi tham nhũng được quy định tại các Khoản 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng

Các hành vi tham nhũng được quy định tại các Khoản 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng được xác định như sau:

2. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi bao gồm những hành vi sau đây:

a) Sử dụng tài sản của Nhà nước vào việc riêng;

b) Cho thuê, cho mượn tài sản của Nhà nước trái quy định của pháp luật;

c) Sử dụng tài sản của Nhà nước vượt chế độ, định mức, tiêu chuẩn.

Trong trường hợp này, bạn đã sử dụng tài sản của Nhà nước để cho đồng chí trưởng phòng sử dụng vào công việc cá nhân, cho nên hành vi đó vó thể được coi là tham nhũng.

Điều 69 Luật phòng, chống tham nhũng quy định như sau: " Người có hành vi tham nhũng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự; trong trường hợp bị kết án về hành vi tham nhũng và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải bị buộc thôi việc; đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân."

Hành vi tham nhũng của bạn chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự bởi chưa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và bạn cũng nộp đầy đủ tiền vào ngân sách trước khi Thanh tra, cho nên việc áp dụng các hình thức kỷ luật bao gồm: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức, buộc thôi việc. Người có thẩm quyền xử lý cần xem xét mức độ vi phạm của bạn mà áp dụng các hình thức kỷ luật nêu trên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.