Bố tôi không có ý định để lại di chúc cho tôi và em tôi, trong khi đó chúng tôi là con chung của hai ông bà (mẹ tôi không có con riêng bên ngoài). Xin hỏi luật sư, việc bố tôi viết di chúc để lại hết căn hộ kia cho đứa riêng của bố tôi có đúng không? Xin được luật sư tư vấn giúp!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Bộ luật Dân sự 2015;

2. Luật sư tư vấn:

Do bạn không nói rõ là căn hộ đó là do Nhà nước cấp đó cho hai vợ, chồng (bố, mẹ bạn) hay là chỉ cấp cho bố mạn. Nên câu hỏi của bạn có thể giải quyết theo hai hướng như sau:

1. Nhà nước cấp căn hộ cho cả hai vợ, chồng

Trong trường hợp căn hộ có nguồn gốc do Nhà nước cấp cho cả hai vợ chồng. Như vậy, căn nhà sẽ thuộc tài sản chung của cả hai bố, mẹ bạn. Theo đó, khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định về tài sản chung vợ chồng như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Theo đó, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung và có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Như vậy, bố và mẹ của bạn có các quyền ngang nhau đối với việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt căn hộ này.

Vì căn hộ đó thuộc quyền sở hữu của cả bố và mẹ bạn, nên bố bạn sẽ chỉ có quyền để lại di chúc quyết định phần tài sản của mình, không phải đối với toàn bộ căn hộ. Do mẹ bạn qua đã lâu, không để lại di chúc nên phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mẹ bạn phải được chia thừa kế theo pháp luật, theo hàng thừa kế. Pháp luật dân sự quy định về trường hợp khi người chết không để lại di chúc như sau:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;”

Do mẹ bạn chỉ có hai người con chung với bộ bạn là bạn và anh của bạn, đồng thời không có người con riêng nào khác. Như vậy, bạn và anh của bạn sẽ trở thành những người thừa kế theo pháp luật và được hưởng di sản thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự về thừa kế. Pháp luật quy định về thứ tự ưu tiên trong trường hợp hưởng thừa kế theo pháp luật như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS, bạn và anh của bạn đều là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, là những đồng thừa kế đối với căn hộ. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Theo quy định của pháp luật thì những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Như vậy, trường hợp bố bạn muốn để lại di chúc cho người con riêng quyền sở hữu căn hộ mà không được sự đồng ý của tất cả anh em trong gia đình là không đúng quy định, việc chỉ mình bố bạn đứng tên căn hộ cũng không ảnh hưởng đến việc này.

2. Nhà nước cấp căn hộ cho một mình người chồng

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này”.

Trường hợp Nhà nước chỉ cấp căn hộ này cho bố bạn thì đây là tài sản riêng cỉa bạn và bố bạn có quyền quyết định đối toàn bộ căn hộ. Vì vậy, nếu bố bạn muốn để lại di sản thừa kế cho ai là quyền của ông, không cho con đẻ của mình mà đi cho con riêng hay bất kỳ người khác không liên quan vẫn được.

Cho nên, việc bố bạn có cho người con riêng toàn bộ di sản thừa kế hay không là quyền của bố bạn.

Tuy nhiên, pháp luật dân sự có quy định về người thừa kế không phụ thuộc như sau:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động”.

Như vậy, trong trường hợp vẫn còn những người thừa kế theo theo quy định tại khoản 1 Điều 664 BLDS 2015 thì bố bạn cũng không thể trao toàn bộ quyền thừa kế cho người con riêng đó.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê