Năm 2013 bố tôi mất, không để lại di chúc, toàn bộ tài sản do bố tôi để lại là một ngôi nhà 05 gian trị giá khoảng 200 triệu đồng, đất ở + đất vườn diện tích là 1300m2, đất ruộng và đất mầu có 08 thửa diện tích là 21.000m2. Nguồn gốc đất do nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Hỏi: 1. Nay gia đình tôi muốn chia thừa kế tài sản thì làm như thế nào? (Không thể chuyển toàn bộ tài sản để một người đứng tên được vì Anh cả và anh hai tôi không đồng ý ký văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế với lý do nếu đứng tên mẹ thì mẹ không biết chữ, còn nếu đứng tên em trai thứ tư thì em trai thứ tư tuyên bố sẽ không phân chia cho ai cả, nên không thể thống nhất đứng tên một người được). 2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên bố tôi thì em tôi có quyền đem đi thế chấp ngân hàng không? 3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên bố tôi thì em tôi có quyền đem bán một trong các thửa đất đó không? 4. Nếu không chia được như trên thì còn cách nào nữa không? Nay nếu chúng tôi muốn kiện phân chia tài sản với em trai út của tôi thì làm như thế nào? Tôi muốn nhờ luật sư thì lệ phí là bao nhiêu? Hợp đồng thế nào? Án phí khởi kiện chia thừa kế bao nhiêu? Kính mong được văn phòng tư vấn! Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từchuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn dân sự trực tuyến, Gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới mục tư vấn của công ty chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

 

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội   

Luật đất đai năm 2013 

Pháp lệnh mức án phí, lệ phí tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 

2. Nội dung tư vấn

Trong trường hợp của bạn, vì bố bạn không để lại di chúc nên Thừa kế theo pháp luật sẽ được áp dụng theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 675 Bộ luật dân sự 2005.  Điều 676 Bộ luật dân sự quy định về Người thừa kế theo pháp luật như sau: 

" Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Do đó, những người được thừa kế theo pháp luật của gia đình bạn đó là mẹ bạn và 5 anh em trong gia đình bạn. Theo thứ tự thì những người thừa kế trong gia đình bạn đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên đều được hưởng phần di sản bằng nhau.

Thứ nhất, về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật 

Điều 685 Bộ luật dân sự 2005 quy định phân chia như sau:

" Điều 685. Phân chia di sản theo pháp luật

1. Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia." 

Do thời gian bố bạn mất là năm 2013 nên nếu bây giờ gia đình bạn muốn chia di sản thừa kế thì bạn có thể làm đơn khởi kiện phân chia di sản theo pháp luật đến Tòa án nhân dân huyện nơi có đất để yêu cầu giải quyết. Đơn khởi kiện bạn làm theo mẫu tại Tòa. 

Thứ hai, về việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất (bán đất)

Điều 167 Luật đất đai 2013 thì người sử dụng đất có quyền thế chấp, chuyển nhượn quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, người thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 188 sau đây:

- Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

- Đất không có tranh chấp

- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án.

- Trong thời hạn sử dụng đất.

Trong trường hợp bạn nộp đơn khởi kiện phân chia di sản theo pháp luật thì đất của gia đình bạn là đất đang có tranh chấp, vi phạm điều kiện thứ 2 nên em trai bạn không thể thực hiện quyền thế chấp hay chuyển nhượng. Đồng thời, di sản thừa kế của bố bạn chưa được chia cho các thành viên trong gia đình nên em trai bạn không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, em trai bạn chỉ có quyền thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất mà em trai bạn được thừa kế theo phán quyết của Tòa. 

Thứ ba, về hồ sơ khởi kiện, mức án phí, lệ phí

Khi bạn làm đơn khởi kiện phân chia di sản theo pháp luật thì sẽ khó có thể xảy ra việc không thể chia di sản, khi chia di sản theo pháp luật thì những người cùng hàng thừa kế với nhau đều được hưởng phần di sản giống nhau và có quyền và nghĩa vụ riêng đối với phần di sản mà mình được thừa kế. Về trình tự, thủ tục khởi kiện sẽ được thực hiện theo Bộ luật tố tụng dân sự 2004. 

Hồ sơ khởi kiện bao gồm :

- Đơn khởi kiện;

- Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: Giấy khai sinh, Chứng minh thư nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện và hàng thừa kế;

- Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;

- Bản kê khai các di sản;

- Các giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản;

- Các giấy tờ khác: Biên bản giải quyết trong hộ tộc, biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn ( nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản ( Nếu có).

Căn cứ vào danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 bạn có thể tham khảo mức án phí, lệ phí dưới đây:

1. Mức lệ phí Tòa án giải quyết việc dân sự:

Loại lệ phí

Mức lệ phí

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự

200.000 đồng

Lệ phí phúc thẩm giải quyết việc dân sự

200.000 đồng

2. Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống

200.000 đồng

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự.