Tôi xin kể như sau: Ba tôi đã ly dị vợ cũ và có 1 người con A, sau đó Ba tôi cưới Má tôi rồi ở chung nhà với gia đình vợ và sinh ra tôi. Khoảng vài năm sau bà ngoại tôi cho Ba và Má tôi căn nhà này. 10 năm sau là Ba tôi mất, bây giờ người con A của Ba tôi đòi chia tài sản là căn nhà mà ngoại tôi đã cho Ba Má sau đám cưới. Nhưng Má tôi ko chấp nhận vì cho rằng căn nhà này ko có liên quan tới người con A của Ba tôi. Sau khi Ba tôi chết không có để di chúc hay tài sản gì cả và đứng tên căn nhà chỉ có tên Má tôi thôi. Vậy xin luật sư cho ý kiến: Má tôi không chia bất kỳ tài sản nào cho người con A của Ba được ko! Má tôi chuyển giấy tờ nhà cho Tôi đứng tên được không? Xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập bởi chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Xin chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho luật Minh Khuê. Chúng tôi xin được trả lời bạn như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Nội dung trả lời:

Theo những thông tin bạn cung cấp, thì người con A hoàn toàn được quyền nhận tài sản thừa kế. Trước hết, căn cứ Luật hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Theo đó thì căn nhà do bà ngoại bạn tặng chung cho ba má bạn là tài sản chung của 2 vợ chồng. Ba của bạn có quyền đối với một nửa căn nhà đó.

Do ba bạn mất đi không để lại di chúc, nên tài sản được chia theo pháp luật. Bộ luật dân sự quy định về những người thừa kế như sau:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Giả sử ông bà nội của bạn đã mất, các anh chị em ruột của ba bạn đã mất hoặc từ chối nhận di sản, thì những người thừa kế hợp pháp còn lại bao gồm bạn, má bạn và người con A. Một nửa giá trị ngôi nhà sẽ chia đều cho 3 người thừa kế. Như vậy, người con A được hưởng 1/6 giá trị ngôi nhà. Đây hoàn toàn là quy định của pháp luật, nếu má bạn không thực hiện đúng thì A có thể khởi kiện ra Toà để được chia tài sản thừa kế.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự.