Me tôi có trả lời rằng, tôi còn đứa con trái út-Nguyễn Văn Nghĩa thì tài sản của tôi sẽ để lại cho nó. và sau đó chính quyền địa phương có làm lại và sang tên Sổ đỏ lại cho tôi-Nguyễn Văn Nghĩa nên hiện tại tôi là người đứng tên sổ đỏ (Nhưng mẹ không để lại di chúc bằng văn bản và mẹ mất năm 2001) Tuy rằng, trên giấy tờ tôi đang là người đứng tên quyền sở hữu đất do mẹ để lại, nhưng người ở hiện tại là người chị thứ 6 của tôi, chị tôi sống cùng mẹ ờ căn nhà đó từ trẻ đến khi mẹ mất và ở giữ phủ thờ đến nay, tuy nhiên giấy tờ sổ đỏ cũng là chị tôi đang giữ. Hiện tại gia đình đang có tranh chấp với nhau về việc sở hữu mãnh đất đó, nói là tuy tôi đứng tên trong sổ đỏ nhưng không có quyền hạn gì cả và còn có ý định thách thức đưa đơn kiện. Vì lẻ đó, nên hôm nay tôi mong muốn làm rỏ vấn đề theo đúng công lý và pháp luật mong luật sư tư vấn giúp tôi một số thắc mắc như sau 1. Người đứng tên thừa kế sổ đỏ có giá trị pháp lý như thế nào (Trường hợp không có di chúc bằng văn bản? 2 Nếu tôi không giữ sổ đỏ trên tay thì làm thế nào nếu chị tôi không giao lại sổ đỏ cho tôi (với lý do có thể là mất, là cháy, ..) trường hơp mất sổ đỏ. 3. Nếu hiện tại tôi muốn làm di chúc cho con tôi, thì có được di chúc lại mãnh đất mà tôi đang đứng tên sổ đỏ đó không, việc làm di chúc và cấp lại sổ đỏ cho con tôi đứng tên có hợp pháp không và làm như thế nào. 4. Các anh chị em của tôi, cha mẹ không có di chúc lại, cũng không có tên trong sổ đỏ thì được hưởng gì trên tài sản củ mẹ tôi để lại.

Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty Luật Minh Khuê. 

Chia tài sản thừa kế khi không có di chúc ?

Luật sư tư vấn luật dân sự, gọi 1900.6162

Trả lời: 

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

Luật đất đai 2013

Nội dung tư vấn

Dựa trên thông tin do anh cung cấp, chúng tôi xin phép được tóm lược và trả lời các vấn đề mà anh thắc mắc như sau:

1. Việc tôi đứng tên trên sổ đỏ có giá trị pháp lý gì không khi mẹ tôi mất không để lại di chúc về việc thừa kế đất ?

Theo quy định tại khoản 16, điều 3, Luật đất đai 2013 thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sổ đỏ) là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất. 

Căn cứ vào quy định trên thì sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) có giá trị pháp lý là chứng thư pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất của người có quyền sử dụng đất. Nói cách khác, người đứng tên trên sổ đỏ sẽ là người có quyền sử dụng đất hợp pháp nếu như sổ đỏ được cấp đúng theo quy định của pháp luật. 

Tuy nhiên để xác định giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện đang mang tên anh thì cần xem xét anh có là người có quyền sử dụng đất hợp pháp do việc để lại thừa kế của bố mẹ hay không vì không loại trừ trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị cấp sai quy định của pháp luật. 

Theo quy định tại điều 651, bộ luật dân sự 2005 thì "Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng" .Theo quy định tại khoản 5, điều 652 "Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực". Trong trường hợp gia đình anh, mẹ anh mất không để lại di chúc,lúc còn khỏe trước khi mất, mẹ anh chỉ nói miệng với chính quyền xã là để lại đất cho anh, căn cứ vào quy định trên thì không thể coi đây là di chúc miệng và việc chính quyền làm lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh là sai quy định của pháp luật. Bởi vì theo quy định tại điều 99, Luật đất đai 2013 thì  Nhà nước chỉ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau:

a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;

b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;

c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;

d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;

e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;

k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.

Nói cách khác, việc anh hay chị gái anh đang nắm giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) mang tên anh cũng không có giá trị pháp lý quan trọng, bởi lẽ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh bị cấp trái với quy định của pháp luật và không có giá trị trong việc xác nhận anh là người sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ diện tích đất do cha mẹ anh để lại. 

2. Mẹ mất không để lại di chúc thì các anh chị em khác có được hưởng di sản thừa kế không?

Theo quy định tại khoản 1, điều 675, Bộ luật dân sự 2005 thì thừa kế theo pháp luật sẽ được áp dụng trong các trường hợp sau: 

-Không có di chúc;

- Di chúc không hợp pháp;

-Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

-Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.

Cha mẹ anh mất không để lại di chúc, vì vậy căn cứ vào quy định trên, trường hợp của gia đình anh sẽ áp dụng thừa kế theo pháp luật. Theo quy định tại điều 676, Bộ luật dân sự 2005 thì: 

"Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

-Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

-Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau"

Như vậy, di sản mà cha mẹ anh để lại sẽ được chia đều cho những người đồng thừa kế là các anh, chị, em khác của anh. 

3. Có thể di chúc lại mảnh đất do tôi đang đứng tên cho con tôi không? trình tự thủ tục để lại di chúc?

Như đã trình bày ở trên, anh không có quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ diện tích đất do cha mẹ anh để lại bởi vậy anh không thể để lại di chúc và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất đó cho con anh được. Việc để lại di chúc và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho con anh chỉ được thực hiện sau khi đã tiến hành phân chia di sản thừa kế là diện tích đất do cha mẹ anh để lại với các đồng thừa kế khác là anh, chị, em của anh. Theo quy định tại khoản 2, điều 685, Bộ luật dân sự 2005 thì "Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia". 

Nếu di sản anh được nhận là một phần diện tích đất do cha mẹ anh để lại sau khi thỏa thuận phân chia di sản với các anh, chị, em khác của anh thì anh hoàn toàn có quyền lập di chúc để lại phần diện tích đất đó cho con của mình. Việc lập di chúc anh cần lưu ý các điều kiện để di chúc hợp pháp là:

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

-Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật

Và theo quy định tại điều 653, bộ luật dân sự 2005 thì Nội dung của di chúc bằng văn bản phải đáp ứng các yêu cầu: 

"1. Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc"

Sau khi có di chúc hợp pháp để lại diện tích đất mà anh được thừa hưởng từ cha mẹ cho con anh thì con anh hoàn toàn có quyền nộp đơn xin Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai 2013. 

Cụ thể, căn cứ Điều 70 Luật đất đai 2013; Điều 8 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa chính. Người xin cấp Giấy chứng nhận cần phải chuẩn bị:

- Một bộ hồ sơ bao gồm:

+ Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Mẫu số 04/ĐK).

+ Một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai đối với trường hợp đăng ký về quyền sử dụng đất.

+ Một trong các giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Đất đai (đối với trường hợp đăng ký về quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất).

Trường hợp đăng ký về quyền sở hữu nhà ở hoặc công trình xây dựng thì phải có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng đã có sơ đồ phù hợp với hiện trạng nhà ở, công trình đã xây dựng).

+ Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; giấy tờ liên quan đến việc miễn, giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai, tài sản gắn liền với đất (nếu có).

+ Trường hợp có đăng ký quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề phải có hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án nhân dân về việc xác lập quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề, kèm theo sơ đồ thể hiện vị trí, kích thước phần diện tích thửa đất mà người sử dụng thửa đất liền kề được quyền sử dụng hạn chế.

+ Tờ khai lệ phí trước bạ (Mẫu số 01/LPTB).

+ Tờ khai tiền sử dụng đất (Mẫu số 01/TSDĐ).

-  Số lượng hồ sơ: 01 bộ

-  Thời gian thực hiệnKhông quá 30 (ba mươi) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, không kể thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính và thời gian niêm yết công khai của UBND cấp xã (15 ngày).

- Cơ quan tiếp nhận hồ sơ: Phòng Tài nguyên và môi trường của UBND cấp huyện.

- Phí, lệ phí:

+ Trường hợp chỉ có quyền sử dụng đất: 25.000đồng/giấy.

+ Trường hợp có tài sản gắn liền với đất: 100.000đồng/giấy.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng !

Bộ phận tư vấn luật dân sự.