Văn bản pháp luật:

Bộ luật dân sự năm 2015

Nội dung tư vấn:

Ngày 1/1/2017 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực, trong đó Bộ luật cũng dành hẳn một Chương quy định riêng về chế độ Thừa kế (chương XXI). Theo đó chế độ thừa kế được chia làm hai hình thức là thừa kế theo di chúc và theo pháp luật.

1. Thừa kế theo pháp luật được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a, Khi người có tài sản thừa kế mất mà không có di chúc để lại

b, Di chúc không hợp pháp, đó là khi mà người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép và nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

c, Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d, Những người được chỉ định hưởng di sản trong di chúc nhưng từ chối nhận hoặc không có quyền hưởng di sản 

đ, Phần di sản không được người có tài sản định đoạt trong di chúc

e, Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

2. Những ai được hưởng thừa kế theo pháp luật?

Nếu như di chúc không phân biệt đối tượng hưởng di sản thừa kế, người hưởng di sản có thể là người có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng, hôn nhân; cũng có thể là bạn bè, đồng nghiệp...Thì thừa kế theo pháp luật lại khác, theo quy định của Bộ luật dân sự, chỉ có những người có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng, hôn nhân, những người có quan hệ trong gia đình thì mới được hưởng di sản thừa kế. 

Việc thừa kế theo pháp luật được phân chia theo thứ tự hàng thừa kế, cụ thể như sau:

  • Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
  • b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
  • c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

Trên thực tế, có một số trường hợp hi hữu, đó là người để lại tài sản không để lại di chúc định đoạt tài sản thừa kế và người thừa kế theo pháp cũng không còn ai để hưởng di sản thừa kế. Trong trường hợp này, di sản thừa kế được giải quyết như sau: tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.

3. Những ai không được hưởng thừa kế theo pháp luật?

 Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, hoặc có hành vi xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

 Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

 Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

4. Tỷ lệ hưởng di sản thừa kế theo pháp luật:

Bởi đây là thừa kế theo pháp luật, cho nên về nguyên tắc những người cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần thừa kế bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Di sản thừa kế có thể phân chia bằng hiện vật theo yêu cầu của những người thừa kế theo pháp luật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.

5. Giải quyết chia di sản thừa kế nếu có tranh chấp xảy ra?

Thừa kế là một vấn đề rất dễ xảy ra tranh chấp, vì thế để giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế những người thừa kế có thể lựa chọn một trong hai cách thức sau:

Thứ nhất là tự thỏa thuận phân chia thông qua biên bản họp gia đình, văn bản phân chia di sản thừa kế và công chức, chứng thực (phương án này đảm bảo được việc tự thương lượng và giữ được đoàn kết gia đình)

Thứ hai, trong trường hợp tranh chấp mà không thể thương lượng được thì có thể khởi kiện phân chia thừa kế tại Tòa án nhân dân; theo quy định thì việc khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản thừa kế có thời hiệu là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hiệu này nếu không có yêu cầu thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.

Trên đây là một số nội dung cơ bản về thừa kế theo pháp luật: Khi nào chia thừa kế theo pháp luật? Ai được hưởng thừa kế theo pháp luật?

Trường hợp khách hàng cần tư vấn cụ thể về vấn đề thừa kế có thể liên hệ đến tổng đài 1900.6162 để được tư vấn chuyên sâu.

Trân trọng cảm ơn!

Trần Nguyệt- Chuyên viên pháp lý- Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự Công ty Luật Minh Khuê