Rất mong nhận được sự giải đáp từ luật sư.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mụcTư vấn pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

>>Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sựgọi: 1900 6162

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp luật:

Bộ luật Dân sự 2005

Nội dung phân tích:

Trước hết cần hiểu như thế nào là chiếm hữu và quyền chiếm hữu. Theo đó:

Chiếm hữu: là sự chiếm hữu vật thực tế kết hợp với ý chí của người chiếm hữu coi vật đó như là của mình.

Đối với quyền chiếm hữu: Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2005, “Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản” (Điều 182BLDS). Theo quy định pháp luật quyền chiếm hữu được xác định là một trong ba loại quyền cấu thành quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản. (Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt).

Thực chất việc chiếm hữu là căn cứ để xác định quyền chiếm hữu của chủ thể, đồng thời là điều kiện làm phát sinh quan hệ chiếm hữu cũng như những hệ lụy pháp lý của quan hệ chiếm hữu. Chiếm hữu với ý nghĩa là chiếm dụng đồ vật trên thực tế là quan hệ làm cơ sở phát sinh cho sở hữu và quyền sở hữu.

Quyền chiếm hữu có điểm chung với các quyền chủ thể khác ở chỗ: nó xuất hiện cùng với các sự kiện thực tế là việc chiếm hữu tài sản trên thực tế; bảo vệ chiếm hữu chỉ bắt đầu xuất hiện cùng với sự kiện xác lập sự thống trị thực tế đối với đồ vật kết hợp với ý chí coi đồ vật như là của mình. Đặc thù riêng của chiếm hữu chính là ở chỗ: đối với tất cả các quyền chủ thể khác, ví dụ: quyền sở hữu, quyền đối nhân - quyền trong các trường hợp này khi vừa xuất hiện, ngay lập tức, chúng dường như tách biệt khỏi các sự kiện làm phát sinh chúng (hợp đồng, vi phạm), những sự kiện này đã thuộc về quá khứ, cái đang tiếp diễn chỉ là những hệ quả pháp lý của các sự kiện mà thôi. Đối với quyền chiếm hữu, sự tiếp diễn của các sự kiện pháp lý là sự chiếm hữu tài sản trên thực tế làm phát sinh quyền là điều kiện cho sự tồn tại của quyền yêu cầu bảo vệ. Người chiếm hữu có quyền chỉ khi nào anh ta thực tế đã có vật. Như vậy, đối với quyền chiếm hữu sự kiện xác lập quyền đồng thời là điều kiện thường xuyên để quyền này tồn tại.

Ngược lại quyền chiếm hữu là một quyền được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, nó phát sinh khi chủ thể trực tiếp chiếm hữu tài sản. Chủ thể khi chiếm hữu tài sản thì có thể được pháp luật bảo vệ trong những trường hợp nhất định, Việc chiếm hữu bao gồm hai trường hợp: chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Hai trường hợp này được quy định tại các Điều luật của Bộ luật dân sự như sau:

Điều 183. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật

Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây:

1. Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

2. Người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản;

3. Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;

4. Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;

5. Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;

6. Các trường hợp khác do pháp luật quy định.

Điều 189. Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình

Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Điều 183 của Bộ luật này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.

Căn cứ các trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nêu ở trên Luật quy định về quyền chiếm hữu của chủ sở hữu theo quy định tại Điều 184. Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu (Bộ luật dân sự)

“Trong trường hợp chủ sở hữu chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý tài sản nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

Việc chiếm hữu của chủ sở hữu không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian, trừ trường hợp chủ sở hữu chuyển giao việc chiếm hữu cho người khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Đồng thời pháp luật cũng quy định về quyền chiếm hữu theo các quy định tại các điều của Bộ luật dân sự sau:

Điều 185. Quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản

Điều 186. Quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự

Điều 187. Quyền chiếm hữu tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu

Điều 188. Quyền chiếm hữu gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc

Điều 189. Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình

Như vậy điểm khác biệt cơ bản giữa chiếm hữu và quyền chiếm hữu chính là việc nếu chiếm hữu là việc nắm giữ, quản lý tài sản trên thực tế , đây là hành vi cụ thể của chủ thể. Còn đối với quyền chiếm hữu về bản chất đây là một loại quyền của của thể được pháp luật quy định ghi nhận và bảo vệ cũng như đảm bảo cho chủ sở hữu được thực hiện quyền năng này trên thực tế.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư  dân sự.