Vì tin bạn nên khi cho bạn mượn điện thoại và laptop không có làm giấy xác nhận việc có mượn đồ của em và cam kết thời gian trả(vì lúc đó cũng nhiều người bạn chung của em với bạn của em ngồi uống cafe)sợ bị mọi người nói là không tin tưởng bạn bè...(cũng khó xử),cũng không có ghi âm cuộc nói chuyện và quay video trong quá trình giao dịch.tin nhắn nt mượn đồ của em cũng không còn lưu nữa .nhưng những người ngồi uống cf chung đó cũng giống như em.đều là chủ nợ của thằng bạn em.chỉ có được là lúc đó có nhiều người chứng kiến việc em có cho thằng bạn mượn đồ để đi cầm lấy tiền giải quyết việc riêng.và bạn em cũng chính là người trực tiếp đem điện thoại đi cầm tại cửa hàng điện thoại di động.và trường hợp laptop thì thằng bạn em đem đi thế để đổi lấy tiên mặt của một người nào đó là chủ khách sạn qa sự giới thiệu của một ông anh quen với nơi đó.lúc đó em có hỏi thằng bạn thì nó nói cứ yên tâm đi nói em chỉ biết là nó mượn laptop của em thôi. Mất nó đền và khi tới hẹn chuột trả cho em thì thằng bạn em cứ lấy cớ nay cớ nọ để khônh đi chuột được, lúc thì nói quên chỗ cầm, để hỏi lại ông anh thì nói là ông anh đi công tác gì rồi. lúc mượn đồ thì hứa thời hạn 2 ngày trả lại thôi, nhưng đến giờ gần 11 tháng rồi, và điện thoại em cũng như vậy. Và số tiền nhờ em đứng ra mượn của bạn gái em hứa là 2 tháng sau sẽ thanh toán hết toàn bộ tiền gốc và tiền lãi luôn. Đến giờ cũng được hơn 9 tháng rồi. Và bây giờ thằng bạn em nó bỏ ra bình dương ở nhà người chị nó phụ tiếp công việc kinh doanh của chị nó. Em có nhiều lần điện thoại kêu nó trả nợ cho em, trả một lần không được thì trả trước 1 ít để em xoay sở vì điện thoại và laptop em kiếm mượn những người bạn của em để mua lại để về quê vì gia đình cũng khó. Toàn bộ sự việc là vậy em mong anh(chị) nào trước đây đã từng giải quyết trường hợp nào giống như trường hợp của em tư vấn giúp em để có thể đòi lại được tài sản của em .Em xin chân thành cảm ơn!!!!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Cho bạn mượn vay mượn tiền không có làm giấy xác nhận mượn nợ?

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ pháp lý:

Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định “Chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi theo Luật sửa đổi Bộ luật tố tụng dân sự

Nội dung tư vấn:

Dựa vào những thông tin bạn cung cấp thì việc cho bạn vay tiền của bạn chỉ có những người cùng đi chung uống cà phê làm chứng mà không có giấy tờ về việc cho vay và cũng không ghi âm, ghi hình...thì lời khai của những người làm chứng cũng có thể làm chứng cứ để khởi kiện.

Căn cứ khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP:

Để được coi là chứng cứ quy định tại Điều 81 của BLTTDS, thì việc xác định chứng cứ từ từng loại nguồn chứng cứ cụ thể như sau:

"a) Các tài liệu đọc được nội dung phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Bản chính có thể là bản gốc hoặc bản được dùng làm cơ sở lập ra các bản sao.

b) Các tài liệu nghe được, nhìn được phải được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó. Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, phim, ảnh,… Nếu đương sự không xuất trình các văn bản nêu trên, thì tài liệu nghe được, nhìn được mà đương sự giao nộp không được coi là chứng cứ.

Ví dụ 1: Trong vụ tai nạn giao thông, người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại được một người cung cấp băng ghi hình về hiện trường vụ tai nạn giao thông. Trong trường hợp này, cùng với việc giao nộp băng ghi hình đó, người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại phải xuất trình cho Toà án bản xác nhận của người đã cung cấp cho mình về xuất xứ của băng ghi hình đó.

Ví dụ 2: Ông A cho ông B vay năm triệu đồng với thời hạn 12 tháng. Việc vay tài sản không lập thành văn bản, nhưng được ông A ghi âm lại toàn bộ nội dung thoả thuận về việc vay tài sản, việc giao nhận tiền và thời điểm thanh toán nợ giữa ông A và ông B để làm bằng chứng cho việc vay tài sản của ông B. Đến hạn trả nợ, ông B không trả số tiền đó cho ông A. Ông A khởi kiện ông B ra Toà án. Trong trường hợp này, cùng với việc giao nộp băng ghi âm, ông A phải gửi văn bản trình bày về sự việc liên quan tới việc thu âm đó.

c) Vật chứng phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc dân sự; nếu không phải là hiện vật gốc hoặc không liên quan đến vụ việc thì không phải là chứng cứ trong vụ việc dân sự đó.

d) Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình và được xuất trình theo đúng thủ tục quy định tại khoản 2 Điều 83 của BLTTDS và hướng dẫn tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên toà.

đ) Kết luận giám định, nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục quy định của Luật Giám định tư pháp, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và hướng dẫn tại Điều 10 của Nghị quyết này.

e) Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ, nếu việc thẩm định tại chỗ được tiến hành theo đúng thủ tục quy định tại Điều 89 của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 9 của Nghị quyết này.

g) Tập quán, nếu được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận.

Cộng đồng là tập thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội tại nơi có tập quán.

Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng.

Tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại;

Tập quán thương mại quốc tế là thông lệ, cách làm lặp đi, lặp lại nhiều lần trong buôn bán quốc tế và được các tổ chức quốc tế có liên quan thừa nhận;

Chỉ chấp nhận tập quán không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Đối với những vấn đề mà đương sự viện dẫn tập quán nhưng đã có văn bản quy phạm pháp luật quy định, thì Toà án phải áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó để giải quyết mà không áp dụng tập quán.

Ví dụ: Trong một số đồng bào dân tộc thiểu số có tập quán khi người mẹ chết, chỉ các con gái có quyền, còn các con trai không có quyền hưởng phần di sản của người mẹ quá cố để lại. Trong vụ tranh chấp di sản thừa kế do người mẹ để lại, nếu người con gái viện dẫn tập quán đó để bác bỏ quyền thừa kế của các thừa kế là con trai, thì tập quán này không được chấp nhận. Vì đây là tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cần vận động xoá bỏ theo quy định tại phụ lục B “Danh mục phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình của các dân tộc bị nghiêm cấm áp dụng hoặc cần vận động xoá bỏ” ban hành kèm theo Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27-3-2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình đối với các dân tộc thiểu số.

h) Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản nếu việc định giá tài sản được tiến hành theo đúng thủ tục quy định tại Điều 92 của BLTTDS."

Theo quy định trên thì lời khai của những người bạn cùng uống cà phê lúc đó cũng có thể coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình và được xuất trình theo đúng thủ tục quy định tại khoản 2 Điều 83 của BLTTDS và hướng dẫn tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên toà. 

Bạn cũng có thể gọi điện đòi nợ và ghi âm cuộc trò chuyện giữa bạn và người bạn đó, nếu trong cuộc trò chuyện bạn của bạn có nói về ngày sẽ trả nợ hoặc thông tin liên quan đến việc nợ tiền thì bạn có thể sử dụng thông tin này làm bằng chứng về việc vay tiền.  Nhưng những chứng cứ này phải có văn bản xác nhận xuất xứ thì mới được coi là chứng cứ, là căn cứ để khởi kiện.

Khi đã có đủ bằng chứng và văn bản trình bày về sự việc liên quan đến các bằng chứng đó thì bạn có thể nộp đơn khởi kiện tại tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền nơi bạn của bạn cư trú.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.