Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội

Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội

2. Nội dung phân tích:

Bộ luật dân sự quy định:

"Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Bộ luật hình sự quy định:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Vào năm 2010, gia đình bà B gặp khó khăn về vấn đề kinh tế có mượn của bà A số tiền là 4 triệu, 5 triệu , 4 triệu, mượn nhiều lần ….tổng cộng số tiền gốc là 40 triệu .Thời gian đầu gia đình bà B có đóng lãi đầy đủ.Sau đó bà B chăn nuôi bị dịch bệnh nên trả lãi không đầy đủ từng tháng, mấy tháng trả lãi 1 lần. Đến năm 2015, bà B và bà A có tính toán lại và làm 1 tờ giấy viết tay với tổng số tiền : Gốc : 40 triệu lãi : 30 triệu = 70 triệu. Sau một khoảng thời gian đóng lãi , bà A có nói với bà B khi nào có tiền thì trả lại cho bà A số tiền là 50 triệu đồng và không tính thêm khoảng lãi nào nữa( nói miệng ). Nay năm 2016, bà B trả lại cho bà A số tiền 50 triệu thì bà A không chịu , yêu cầu bà B phải trả 70 triệu và tiền lãi.Bà A nói nếu bà B không có tiền thì trả trước 50 triệu , số tiền 20 triệu sẽ trả sau kèm lãi. Gia đình bà B cũng còn khó khăn chỉ trả được 50 triệu cho bà A để không phải trả lãi hàng tháng nữa. Vậy luật sư cho em hỏi , giờ gia đình bà B có 50 triệu muốn trả lại cho bà A như lời nói miệng và không còn thiếu bất kì khoản nợ nào như lời nói miệng thì gia đình bà B phải làm thế nào ? Pháp luật qui định về vấn đề này như thế nào ?

=> Đối với hình thức cho nhau vay tiền thì pháp luật không quy định bắt buộc các bên phải lập thành văn bản. Bộ luật hình sự quy định:

"Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể."

Vậy việc bà A cho bà B vay tiền không có lãi suất hay có lãi suất thì giao dịch bằng lời nói vẫn được coi là có giá trị pháp lý, tuy nhiên phải có bằng chứng rõ ràng.

Hiện nay chỉ có một tờ giấy viết tay ghi nợ giữa bà A và bà B là số tiền gốc là 40 triệu, lãi 30 triệu thì bà B có nghĩa vụ trả tiền cho bà A theo những gì trên giấy vay nợ đã xác nhận. Nếu bà B có bằng chứng như băng ghi âm về việc bà A không lấy tiền lãi là 30 triệu nữa thì bà B mới có thể chỉ trả tiền nợ gốc được.

em có mua 1 miếng đất nhưng miếng đất này có lên thổ cư thiếu từ tháng 11 năm 2008 , tới nay vẫn chưa thanh toán . Luật sư cho em hỏi thời hạn phải thanh toán hết là bao lâu và quá thời hạn có bị phạt không . Số tiền trong thời gian nợ có tính lãi suất không?

Tại thời điểm bạn làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp thì bạn đã phải thực hiện nghĩa vụ tài chính. Khi đến hạn mà bạn không nộp tiền thì bạn có thể bị phạt vì chậm thực hiện nghĩa vụ.

Trong thời gian nợ tiền sẽ bị tính theo lãi suất nhà nước quy định.

nhà cháu có mua một mảnh đất của ông bác, mà nhà ông bác đó có 2 thửa đất, 1 thửa đất thì cầm ngân hàng thửa còn lại thì không. Khi nhà cháu hỏi mua đất thì ông bác bảo gia đình cháu đưa trước 200 triệu vnd để ông bác lên ngân hàng lấy cuốn sổ trên đó ra rùi mang 2 cuốn sổ lên nhập vào làm 1 và tách 1 thửa ra lại 100m2 đẻ bán cho nhà cháu. Ba mẹ cháu đồng ý với đề xuất đó của ong bác nên đã làm theo nhưng sợ ông bác ko giữ uy tín nên đã làm 1 giấy mượn nợ với số tiền 200 triệu vnđ lúc đó là ngày 14-04-2016 và 1 tờ giấy viết tay bán đất do 2 gia đình kí. Đến bây giờ thì hạn trả tiền cũng đã hết nhưng bên ông bác cẫn chưa giao sổ đất cho gia đình chau và cũng không có khả năng trả số tiền đã mượn. Bây giờ cháu xin luật sư tư vấn dùm giờ gia đình cháu phải làm thế nào ạ?
em có nhận một công trình về sắt là gia công nhà tiền chế tổng số tiền công khoáng là 6.800.000 và sắt thép là em gọi dùm cho chủ nhà trong Lúc lắc gia công em có ứng tổng số tiền là 5.300.000 bây giờ công trình đã hoàng thành nhưng chủ nhà không chiếu thanh toán phần còn lại và thêm 6.000.000 tiền sắt Lúc lắc em gọi dùm còn nợ lai vậy vị chi chủ nhà còn nợ em là 7.500.000 vậy em có thể khởi sự kiện được không (em và chủ nhà chỉ hợp đồng bằng miệng không có giấy tờ gì hết và hóa đơn sắt cũng đứng tên em ) và cho em biết thêm là nếu khởi sự kiện được thì hình phạt cho chủ nhà là như thế nào?

=> Lúc này bạn có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu người đó thực hiện đúng theo hợp đồng 2 bên đã thỏa thuận.

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

Trường hợp người đó cố tình dùng thủ đoạn gian dối không trả tiền cho bạn thì căn cứ theo số tiền mà người đó không trả cho bạn thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự. Bộ luật hình sự quy định:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Năm 2012, tôi có làm ăn và thế chấp một mảnh đất để vay tiền ngân hàng, và giá trị mảnh đất tại thời điểm vay được định giá cho vay là 600 triệu đồng. Sau đó đến năm 2014 nhà tôi bị phá sản và không đủ khả năng chi trả, tuy nhiên mảnh đất lúc này bị rớt giá chỉ còn 300 triệu, hiện tại cũng chỉ bán được mức giá đó. Ngân hàng hiện đòi nợ 600 triệu, nhưng tôi ko đồng ý vì thời điểm ngân hàng chấp nhận giá mảnh đất là 600 triệu. Và giờ tôi cũng ko đủ khả năng chi trả món nợ. Xin luật sư giải đáp giùm tối về trường hợp nay và có cách nào giải quyết hợp lý cho cả 2 bên ạ.

=> Lúc này trong hợp đồng thế chấp giữa bạn với ngân hàng phụ thuộc vào số tiền bạn vay và không có thỏa thuận về trường hợp thay đổi giá trị mảnh đất. Vậy lúc này bên phía ngân hàng yêu cầu bạn thanh toán khoản nợ 600 triệu là hoàn toàn đúng quy định pháp luật.

Trường hợp này bạn không có khả năng trả nợ thì ngân hàng sẽ kết hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên tài sản khác của bạn cho đến khi thanh toán toàn bộ số tiền nợ.

Tôi có vay thế chấp sổ đỏ tại quỹ tín dụng tại địa phương 200 triệu, cả lãi đến nay đã 250 triệu. Họ định giá lô đất trong hợp đồng là 300 triệu, nhưng thực tế lô đất chỉ tầm 150 triệu. Do làm ăn thua lỗ, hiện tại tôi đã không còn khả năng trả nợ. Vậy tôi muốn hỏi luật sư nếu lô đất đó sau khi quỹ tín dụng phát mãi vẫn chưa đủ cho khoản nợ của tôi thì tôi có phải trả thêm không liệu tôi có bị truy tố trách nhiệm gì liên quan đến pháp luật không. Và liệu tôi có bị truy tố trách nhiệm gì liên quan đến pháp luật không.

=> Nếu lô đất đó sau khi quỹ tín dụng phát mãi vẫn chưa đủ cho khoản nợ của bạn thì cơ quan có thẩm quyền sẽ kê biên tài sản khác của bạn để thu hồi nợ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê.