1. Cho vay 3 triệu lấy lãi suất mỗi tháng 150 nghìn có bị coi là bị vay nặng lãi không ?

Thưa luật sư! Năm 2011 mẹ em cho vay 3.000.000 lấy lãi mỗi tháng 150.000 gốc khi nào trả cũng được. Vậy có phải cho vay nặng lãi không? bị xử lý như thế nào?
Mong giải đáp giúp em. Em xin chân thành cảm ơn luật sư.

Cho vay 3 triệu lấy lãi suất mỗi tháng 150 nghìn có bị coi là bị vay nặng lãi không ?

Luật sư tư vấn quy định về hành vi cho vay nặng lãi, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Đồng thời, Điều 163 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi 2009 quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, pháp luật chỉ thừa nhận đối với phần lãi suất không vượt quá 150%/ năm theo lãi suất của Ngân hàng nhà nước. Bên cạnh đó, để xem xét hành vi cho vay tiền có lãi có phải là hành vi cho vay nặng lãi hay không thì cần xem xét lãi suất cho vay là bao nhiêu. Nếu lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên, đồng thời có tính chất chuyên bóc lột thì xác định hành vi đó cấu thành Tội cho vay nặng lãi.

Hiện nay, lãi suất của Ngân hàng nhà nước là 9%/năm. Vì vậy lãi suất cho vay không được vượt quá 13,5%/năm (9,5 % . 150%), tức là không được vượt quá 1,125%/ tháng.

Như vậy, hành vi cho vay với lãi suất 6%/tháng là hành vi cho vay có mức lãi suất gấp 5,33 lần mức lãi suất tối đa mà pháp luật cho phép. Vì không phải gấp 10 lần mức lãi suất cho phép nên hành vi trên không cấu thành Tội cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, mức lãi suất này không phải là mức lãi suất phù hợp với quy định của pháp luật, nên bạn và người cho vay tiền cần điều chỉnh mức lãi suất sao cho hợp lý nhất.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn:1900.6162 .

Trân trọng./.

2. Nếu nhờ luật pháp can thiệp thì bên B có bị coi là cho vay nặng lãi hay không ?

Thưa Luật sư, Em có một trường hợp nhờ quý luật sư tư vấn và giải thích giúp ạ. Câu chuyện như sau: bên A mượn tiền bên B dưới dạng là tiền góp (mượn 10 , trả 12tr), phải đóng 1 số tiền cố định theo từng ngày (là 250 nghìn/ngày), mà bên A đã đóng theo dạng góp đó đến số tiền còn nợ là 3tr.

Do 1, 2 ngày không đóng đúng theo giao kèo, bị bên B gọi điện thông báo là số tiền 3tr đó sẽ tăng lên thành 6tr vì lí do trễ hẹn gì đó (mà lúc mượn tiền không có giao kèo là trễ là phải tăng số tiền lên gấp đôi như vậy) , vậy cho em hỏi là nếu nhờ luật pháp can thiệp thì bên B có bị coi là cho vay nặng lãi hay không??? hay bên B có bị phạm vào một tội nào khác hay không ạ?

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: LD

Nếu nhờ luật pháp can thiệp thì bên B có bị coi là cho vay nặng lãi hay không ?

Luật sư tư vấn Luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Luật Minh Khuê. Đối với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin hỗ trợ trả lời như sau:

Hợp đồng bên A và bên B thực hiện là hợp đồng vay có kỳ hạn.

Bên A có nghĩa vụ thanh toán 250.000 đồng/ ngày cho đến khi hoàn trả bên B số tiền 12 triệu đồng nghĩa là trong khoảng thời gian: 12.000.000 : 250.000 = 48 ngày thì hoàn thành.

Số tiền lãi là 12.000.000 - 10.000.000 = 2.000.000 đồng

Do đó số tiền lãi trong 1 tháng là : 2.000.000 : 48 x 30 = 1.250.000 đồng

Lãi suất bên B áp dụng với bên A là 1.250.000 : 10.000.000 x 100% = 12.5 % / tháng

-Theo điều 1 Quyết định số 2668/Qđ-NHNN

Điều 1. Quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm.

Nghĩa là mức lãi suất cơ bản là 9% : 12 = 0.75 % / tháng

-Theo khoản 1 điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

Nghĩa là lãi suất vay không được vượt quá : 0.75 x 150 % = 1.125% / tháng

-Theo khoản 1 điều 163, Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi 2009

Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

Bên B cho bạn vay với lãi suất 12.5 % / tháng nghĩa là gấp hơn 12.5 : 1.125 = 11,11 lần. Do đó bạn nên nhờ sự can thiệp của pháp luật vì bên B có đầy đủ yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

3. Cho vay nặng lãi phải chịu trách nhiệm như thế nào trước pháp luật ?

Kính chào luật sư! tôi muốn hỏi một số vấn đề có liên quan đên việc cho vay nặng lãi. Vào tháng 3 và tháng 4 tôi có mượn của chị kia hai lần tổng cộng là 70 triệu đồng, với lải xuất đóng mỗi tháng là 10.500 ngàn đồng vậy chị này có phạm vào tội cho vay nặng lãi không? nếu như chị ấy vi phạm về tội cho vay nặng lãi thì bi xừ lý ra sao?
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: P.H

Cho vay nặng lãi phải chịu trách nhiệm như thế nào trước pháp luật ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn vì đã tin tưởng và gửi thắc mắc về cho công ty chúng tôi. Đối với vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải quyết như sau:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định về mức lãi suất thì: "1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng."

Và tại khoản 1 Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam đang áp dụng tại thời điểm này là 9%/năm.

Như vậy, bị coi là cho vay nặng lãi khi cá nhân, tổ chức tín dụng cho vay quá 1,5 lần của 9%/năm, nghĩa là vượt quá 1,5x9%=13,5%/năm, để cho sát với trường hợp của bạn, tôi xin quy đối lãi suất cơ bản theo tháng mà Ngân hàng nhà nước đang áp dụng là 13,5%/12=1,125%/tháng

Trong trường hợp của bạn, bạn vay của một người 70.000.000 đồng, lãi suất 1 tháng là 10.500 đồng, tạm tính mức lãi suất mà bạn và người kia là 10.500/70.000.000=0,015%/tháng, thấp hơn 1,125% tháng, trường hợp này là cho vay đúng quy định của pháp luật, không phải cho vay nặng lãi đâu bạn nhé! (nếu tính với lãi suất tối đa pháp luật cho phép thì bạn phải trả số tiền lãi là 70.000.000x1,125%=787.500 mỗi tháng).

Để bạn tham khảo thêm: Nếu người cho vay với số lãi suất lớn hơn 1,125% tháng thì bị coi là cho vay nặng lãi, trường hợp này sẽ bị xử theo Điều 163 Bộ luật hình sự 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Trên đây là giải đáp của chúng tôi đối với vấn đề của bạn, cảm ơn sự tin tưởng của bạn vào công ty chúng tôi. Trân trọng./.

4. Cho UNBD xã vay tiền với lãi xuất 5% có phải là cho vay nặng lãi không ?

Chào luật sư! tôi muốn hỏi luật sư 1 vấn đề: Năm 1999 mẹ tôi có cho xã vay một số tiền là 10.500000đ với lãi suất là 5% trong vòng một năm nhưng đến giờ mẹ tôi chưa nhận được đồng nào, mẹ tôi cũng đi kiện nhưng không được vì điều kiện nên mẹ tôi không nhắc đến nữa.

Mẹ tôi là một người dân bình thường chứ không phải người cho vay tiền vì thấy xã đang gặp khó khăn trong việc kéo đường điện về cho dân nên mới cho mượn tiền. Khi mượn tiền thì xã tự viết khế ước bây giờ tôi muốn hỏi chúng tôi đi kiện có lấy lại được số tiền đó không? với lãi suất như vậy thì mẹ tôi có phải là người cho vay nặng lãi không.

Tôi xin cảm ơn luật sư!

Người gửi: P.H

Cho UNBD xã vay tiền với lãi xuất 5% có phải là cho vay nặng lãi không ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Luật Minh Khuê. Đối với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin hỗ trợ trả lời như sau:

Tội cho vay lãi nặng quy định ở Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ bổ sung 2009 như sau:

Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Hiện nay, mức lãi suất cơ bản bản đồng Việt Nam mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa ra và áp dụng từ ngày 01/12/2010 là 9%/năm theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 ngày 29/11/2010. Theo quy định này thì có thể xác định được mức lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận khi cho vay tiền là:

+ Mức lãi suất năm: 9 x 150% = 13,5%/năm

+ Tương ứng mức lãi suất tính theo tháng: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng.

+ Tương ứng mức lãi suất tính theo ngày: 13,5 : 365 = 0,037%/ngày (làm tròn chữ số thập phân thứ 3)

Theo đó, mẹ bạn có vay với 5%/1 năm không được vay nặng lãi.

Mẹ bạn và UBND đã làm khế ước vay tiền thì có thể lấy giấy tờ này chứng minh đây là hợp đồng vay có sự thỏa thuận giữa các bên ( Có ghi rõ khoản vay nợ gốc và lãi hàng năm và có chữ ký của các bên ).

Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Nếu UBND xã đã không thực hiện thanh toán nợ gốc và lãi theo thỏa thuận thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Thời điểm hiện tại lãi suất ngân hàng là 9% trên năm nên việc cho vay lãi với lãi suất 5% / năm không vi phạm pháp luật.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

5. Thế nào là cho vay nặng lãi và giải quyết cho vay nặng lãi ?

Thưa luật sư! Em xin hỏi về vấn đề liên quan đến pháp luật ạ: anh trai em có mượn tiền người khác (người này cho vay nặng lãi), nhưng do làm ăn thua lỗ nên vài tháng trở lại đây anh trai em không có khả năng trả nợ.

Sau đó thì người ta đem đơn lên kiện kèm theo tờ giấy nợ 200 triệu (nhưng thực chất anh trai em chỉ nợ có 140 triệu, tờ giấy nợ 200 triệu đó là tờ giấy cũ). Sự thật được khai với nội dung như sau: "Tôi và chị Nguyễn Thị Bích H. quen biết cũng vài năm, giữa tôi và chị thường xuyên thực hiện các giao dịch vay mượn tiền bạc để kinh doanh, làm ăn.

Vì chỗ làm ăn quen biết nên chúng tôi giao dịch không ký kết giấy tờ, sau mỗi lần vay mượn tiền của chị tôi đều trả đủ. Cho đến khoảng cuối năm 2015, tôi có mượn chị số tiền là 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu đồng), đến ngày 18/11/2015 tôi có mượn thêm 70.000.000 (bảy mươi triệu đồng) và ký với chị giấy mượn tiền tại ... (địa điểm) với tổng số tiền tôi nợ chị là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng), tờ giấy này tôi giao cho chị giữ. Ngoài tờ giấy nợ, chị còn giữ của tôi một bộ bàn ghế và một chiếc xe tải để làm vật siết nợ. Khoảng nửa tháng sau tôi có mượn thêm chị 50.000.000 (năm mươi triệu đồng), tổng cộng tôi nợ chị 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu đồng) và tôi có đóng tiền lãi cho chị cho đến cuối tháng 1 năm 2016. Do làm ăn thua lỗ nên vào cuối tháng 12 năm 2015 tôi có nói anh Hoàng Văn N. đi mượn tiền cho tôi. Cụ thể anh N. đã mượn của anh Phan Đức T. (em chồng của chị Nguyễn Thị Bích H.) số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng) với lãi suất 6% 1 tháng và ký với anh T. tờ giấy nợ, theo nội dung giấy nợ thì anh T. cho tôi thời gian là 2 tháng trả hết nợ cả vốn lẫn lãi, nếu không trả đủ thì sẽ siết xe ô tô con. Rạng sáng ngày 30/1/2016 vợ chồng chị Nguyễn Thị Bích H. và anh Phan Đức T. cùng với khoảng 10 người nữa tiến vào nhà tôi yêu cầu tôi giao xe, ban đầu tôi đã không đồng ý vì theo như hợp đồng ký với anh T. thì thời hạn giao xe chưa đến và tôi vẫn còn khả năng trả nợ cho anh. Nghe theo lời khuyên của gia đình, tôi đồng ý cấn cho chị H. 1 chiếc xe con màu trắng hiệu Genesis mang biển số 81A-0894x do Hoàng Văn N. đứng tên với trị giá là 670.000.000 (sáu trăm bảy mươi triệu đồng).

Theo như lời chị H. nói thì số tiền lãi tôi phải đóng cho chị là 32.000.000 (ba mươi hai triệu đồng) và đóng lãi cho anh T. là 8.000.000 (tám triệu đồng). Tổng số tiền tôi phải trả cho chị H. và anh T. gồm vốn lẫn lãi là 490.000.000 (bốn trăm chín mươi triệu đồng). Tôi và chị có thoả thuận, số tiền cấn xe sẽ trả tổng số tiền tôi nợ chị H., anh T. và số tiền tôi nợ Ngân hàng là 330.000.000 (ba trăm ba mươi triệu đồng). Sau khi cấn xe tôi còn nợ chị 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu đồng) và tôi có viết cho chị một giấy nợ mới với số tiền nợ như trên, và giao xe qua cho một người khác tên X đứng tên, lúc đó có người làm chứng bao gồm: ba tôi, mẹ tôi, anh trai, cháu tôi và một số người khác. Sau khi viết giấy nợ, tôi còn nói chị huỷ bỏ các tờ giấy nợ trước và chị đã hứa với tôi sẽ huỷ bỏ những tờ giấy nợ đó chứ không giữ lại, do chủ quan nên tôi đã tin chị, nhưng chị H. đã không làm theo những lời mình hứa với tôi. Sau khi cấn xe con cho chị, tôi có sang lấy chiếc xe tải mà chị giữ làm vật siết nợ về, còn bộ bàn ghế tôi dự định lấy sau và cho đến nay tôi vẫn chưa lấy về và chị H. vẫn còn giữ bộ bàn ghế đó của tôi. Đến hiện nay, chị H. lấy tờ giấy nợ cũ ra để thưa kiện tôi, chị đã lợi dụng lòng tin của tôi, không làm đúng lời hứa, nói sai sự thật, hơn thế nữa còn cho vay lấy lãi cao, điều này làm ảnh hưởng đến uy tín và danh dự của tôi cũng như những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà tôi phải chịu.

Tôi xin cam đoan và xin chịu trách nhiệm trước Pháp luật là những gì tôi khai trong Bản tự khai này là hoàn toàn đúng và khách quan. Kính mong Toà xem xét và giải quyết. Tôi xin chân thành cám ơn" Trên đây là nội dung bản tự khai nộp lên toà án ạ. Hiện tại toà đang gọi hoà giải, với thoả thuận là trả chị H. 200 triệu đồng trong 2 tháng, nhưng anh trai em hoàn toàn không có khả năng trả (anh trai em muốn gia hạn thời gian dài để vừa làm dư bao nhiêu trả nợ bấy nhiêu, còn nếu trả trong 2 tháng thì không có khả năng). Vậy thì toà án có quyền hạn ra quyết định anh trai em trả nợ trong 2 tháng không? Muốn thoả thuận trả nợ trong dài hạn thì phải làm thế nào?! Ngoài ra, bà H. đã kiện và khai không đúng sự thật, thì phải làm thế nào để bảo vệ sự thật? Có nên kiện bà H. không và có nên nhờ Công an điều tra giúp đỡ? (Giấy tờ nợ cũ đều nằm trong tay bà H. và phía anh trai em không có bất kì bằng chứng nào để chứng minh bà H. nói sai sự thật và chứng minh bà H. cho vay nặng lãi, chỉ có người làm chứng thôi ạ).

Rất mong nhận được phản hồi của công ty, em xin cám ơn!

Về việc chia thừa kế theo pháp luật ?

Luật sư tư vấn Luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Việc không có bất kì bằng chứng nào để chứng minh bà Huệ nói sai sự thật và chứng minh bà Huệ cho vay nặng lãi là bất lợi cho anh bạn. Tuy nhiên có việc có lời khai của người làm chứng cũng có thể là nguồn chứng cứ.

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định như sau:

Điều 94. Nguồn chứng cứ

Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.

2. Vật chứng.

3. Lời khai của đương sự.

4. Lời khai của người làm chứng.

5. Kết luận giám định.

6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.

7. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.

8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập.

9. Văn bản công chứng, chứng thực.

10. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

Điều 95. Xác định chứng cứ

1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.

2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.

3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.

5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.

6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

8. Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

9. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

10. Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

11. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.

Như vậy, muốn bảo vệ sự thật thì cần có chứng cứ có tính thuyết phục trước tòa. Bạn cần thu thập tất cả mọi thông tin, chứng cứ có thể liên quan đến việc anh bạn đã trả tiền để làm căn cứ bảo vệ quyền là lợi ích của bản thân cũng như thương lượng trước Tòa. Nếu đã có phán quyết của tòa thì phải thực hiện, nếu không thỏa đáng thì có thể kháng cáo. Tốt nhất nên mời luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Cho vay với lãi xuất bao nhiêu thì bị coi là cho vay nặng lãi ?

Xin chào luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi xin được giải đáp: Tôi có cho người quen vay 50 triệu VND với lãi suất 8%/1 tháng. Hiện nay người đó không có khả năng chi trả, tôi muốn nhờ pháp luật can thiệp nhưng bản thân sợ mình vi phạm việc cho vay nặng lãi.

Nếu các giao dịch được thực hiện qua việc chuyển khoản tại ngân hàng, không hề có giấy tờ vay nợ cũng như việc thỏa thuận chi trả lãi suất bao nhiêu, nếu căn cứ vào các giao dịch đã thực hiện thì số tiền lãi của người đó chi trả trong năm qua đã vượt nợ gốc, với trường hợp này nếu người vay nợ chối bỏ trách nhiệm và cho rằng đã thanh toán đầy đủ số tiền đã vay thì tôi nên xử lý thế nào?

Xin cảm ơn!

Người gửi: T.S

>> Luật sư tư vấn luật dân sự về lãi suất:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Công ty chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ vào quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định như sau:

Điều 476. Lãi suất

"1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ".

Như vậy bạn cho vay với lãi suất là 8%/tháng thì không phải là cho vay nặng lãi.

Do việc vay tài sản này không quy định về hình thức bắt buộc nên dù bằng hình thức nào thì việc vay tài sản vẫn là hợp pháp. Theo quy định của pháp luật thì đối với hợp đồng vay tài sản không nhất thiết phải lập thành văn bản mà nó có thể được xác lập dưới nhiều hình thức khác như: bằng lời nói, bằng hành vi,... Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi thì bạn có thỏa thuận về số tiền vay và khoản lãi mà người vay phải trả cho bạn, khi thực hiện các giao dịch liên quan đến việc thực hiện hợp đồng này thì người vay phải thực hiện nghĩa vụ nhất định được quy định tại Điều 474 Bộ luật Dân sự, cụ thể:

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

"1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ".

Khi người vay không thực hiện những nghĩa vụ của mình theo quy định thì bạn có quyền khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Nếu trong quá trình khởi kiện mà bạn có thể có được những chứng cứ, người chứng kiến, tin nhắn hoặc những chứng cứ để chứng minh khác có liên quan đến việc vay tài sản này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Công ty chúng tôi, hy vọng chúng tôi đã giải đáp được vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn tin tưởng sử dụng dịch vụ của Công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê