Người gửi: N.T.T.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sựcủa công ty luật Minh khuê.

Cho vay không có giấy tờ

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi:  1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, với câu hỏi của bạn Luật Minh Khuê tư vấn như sau:

Căn cứ vào Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hợp đồng vay tài sản như sau:

"Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Như vậy pháp luật không quy định cụ thể hợp đồng vay tài sản bắt buộc phải bằng hình thức nào do vậy hai bên có thể xác lập hợp đồng vay tái sản bằng văn bản, lời nói hoặc hành động. Trong trường hợp của bạn thì mẹ bạn và người kia đã xác lập một hợp đồng vay tài sản bằng lời nói, tuy nhiên nếu trong trường hợp mẹ bạn không đòi được cây vàng từ người vay và muốn khởi kiện ra Tòa hoặc nhờ lực lượng công an giải quyết thì bạn phải đưa ra được các căn cứ để chứng minh hai bên đã có hợp đồng:

- Lời khai của bên vay.

- Lời khai của người làm chứng.

- Băng ghi âm, ghi hình xác minh có giao dịch giữa hai bên

- Hoặc các tài liệu, chứng cứ khác.

Tuy nhiên không phải tất cả các tài liệu nào bạn đưa ra cũng được Tòa án xem xét và dùng làm căn cứ khi xét xử, các tài liệu đó chỉ được coi là chứng cứ nếu đảm bảo các điều kiện thuộc Điều 83 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2009):

"1. Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.

2. Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.

3. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.

4. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên toà.

5. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định.

7. Tập quán được coi là chứng cứ nếu được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận.

8. Kết quả định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định hoặc văn bản do chuyên gia về giá cả cung cấp theo quy định tại khoản 1 Điều này."

Như vậy bạn phải dùng cách nào đó để có được chứng cứ như bản ghi âm, ghi hình cuộc hội thoại giữa hai bên, tin nhắn điện thoại, mail... đồng thời bạn phải nộp kèm theo các văn bản xác nhận xuất xứ của các tài liệu đó thì Tòa án mới có căn cứ để quyết định thụ lý vụ án của bạn.

>>>Văn bản pháp luật tham khảo:

- Bộ luật dân sự 2005;

Bộ Luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2009); 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, cảm ơn bạn đã tin tưởng.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ