Thời gian vay là 10 ngày, lãi suất thỏa thuận 2000đ/triệu/ngày, tuy nhiên trước đó anh ấy nói với tôi sử dụng tiền vào mục đích đáo hạn ngân hàng cho người ta để kiếm thêm thu nhập cho gia đình không phải vay để sử dụng cá nhân. Tuy nhiên hơn một tháng tôi không nhận được tiền lãi như đã thỏa thuận trước đó, tôi đến nhà đòi cũng không nhận được tiền gốc. Hết thời hạn vay do không nhận được tiền tôi đã đến nhà yêu cầu anh bạn trả nợ nhưng anh bạn tôi vừa ly hôn vợ và anh này hiện đã nghỉ việc ở ngân hàng. Quá bức xúc tôi đã nộp đơn kiện yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ của tôi trong vụ án ly hôn của vợ chồng anh này. Trong quá trình làm việc chị vợ anh ấy khẳng định không biết gì về khoản tiền mà anh ấy mượn tôi và không đồng ý trả vì cho rằng chị không mượn cũng như không biết về khoản nợ mà anh chồng mượn của tôi. Anh chồng cũng khẳng định chị vợ không biết đến khoản nợ của tôi. Tòa án đưa vụ án ra xét xử và chỉ chấp nhận yêu cầu của tôi là buộc anh này trả nợ cho tôi còn chị vợ không liên quan. Thưa luật sư, Tòa án quyết định như vậy có đúng không? 

Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

1. Căn cứ pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Bộ luật dân sự 2005

2. Nội dung tư vấn:

Điều 60 Luật HN&GĐ 2014 thì khi ly hôn vợ, chồng có tranh chấp về nghĩa vụ của tài sản đối với người thứ 3 thì sẽ áp dụng quy định tại điều 27, 37 và 45 luật này:
 
1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết".
 
Theo quy định tại điều 37 luật HN&GĐ về nghĩa vụ chung về tài sản chung của vợ chồng thì các nghĩa vụ sau đây sẽ dùng tài sản chung của cả hai để giải quyết:
 
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định tại điều 27 Luật HN&GĐ về trách nhiệm liên đới của vợ chồng:

"1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này".
 
Trong trường hợp này,chị vợ không biết về việc chồng mình có vay tiền củ bạn (nghĩa là không có sự thỏa thuận giữa 2 vợ chồng về việc vay nợ và sử dụng số tiền này) và việc vay tiền của của anh chồng cũng không phải là quan hệ đại diện giữa vợ và chồng theo quy định tại điều 24, 25, 26 Luật HN&GĐ2014 nên tài sản chung của vợ chồng sẽ không được dùng để thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ ba theo quy định tại điều này. Như vậy anh chồng phải chịu trách nhiệm về khoản vay bằng  phần tài sản riêng của mình.

Theo thông tin bạn đưa ra thì đây là hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2005. Điều 476 Luật dân sự 2005 quy định như sau:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Theo quyết định số 2868/QĐ-NHNN mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm.Vậy theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì chỉ được áp dụng mức lãi suất cao nhất với khoản tiền bạn cho vay là: 9%/năm x 150% = 13,5%/năm.

Hợp đồng vay tiền với số tiền cho vay là 1 triệu VND thì mức lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận khi vay tiền là:

+ Số tiền lãi suất năm là: 1 triệu x 150 % = 135.000/năm

+ Tương ứng là 11.250 VND /tháng và 370 VND/ngày

Như vậy, bạn đã cho vay với mức lãi suất cao hơn  theo quy định của Bộ luật dân sự 2005. Vậy nên khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật sẽ không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của bạn với phần lãi suất vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Bạn sẽ chỉ nhận được khoản tiền cho vay ban đầu còn phần lãi suất  vượt quá 150% thì bạn sẽ không được hưởng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật, về luật dân sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự.