1. Cho vay nặng lãi có đòi được tiền gốc không?

Thưa luật sư, Vừa rồi em có cho 1 người bạn vay tiền, em có yêu cầu người đó viết giấy theo mẫu của anh chị( phần lãi suất em ghi là theo thỏa thuận, em có giữ của người đó 1 CMTND). Bây giờ em muốn đòi số tiền trên nhưng người bạn đó nhất định không trả và còn dọa lại là sẽ kiện em vì 2 lí do:

+ Thứ nhất: em không có giấy phép để hoạt động kinh doanh;
+ Thứ hai: phần lãi mà hai bên ban đầu thỏa thuận miệng là 3nghin/1ngay/1trieu( nhưng trên hợp đồng thì không ghi). Lãi như vậy đã quá lãi mà nhà nước quy định.
Hiện tại em rất muốn đòi lại khoản tiền đó mà ko cần lấy tiền lãi gì cả, nhưng em vẫn thấy lo vì ko biết mình có vi phạm pháp luật hay không.

Mong anh chị tư vấn giúp em. Cảm ơn anh chị !

Người gửi: DVT

Cho vay nặng lãi có đòi được tiền gốc không?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Liên quan đến câu hỏi của chị, xin trả lời như sau:

Đối với thắc mắc thứ nhất của bạn, theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp thì cá nhân khi kinh doanh hoặc hoạt động kinh doanh mang tính thường xuyên, lấy kinh doanh làm nguồn sinh sống thì phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước để thành lập doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh cá thể theo từng loại hình kinh doanh mình lựa chọn. Vì thế đối với hoạt động kinh doanh của bạn không đăng ký kinh doanh (để lập hộ kinh doanh cá thể hoặc doanh nghiệp) là vi phạm pháp luật. Căn cứ hành vi, tính chất vi phạm mà bạn có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị xử lý hình sự về tội kinh doanh trái phép theo quy định tại Điều 159 Bộ luật hình sự năm 2009 sửa đổi bổ sung về tội kinh doanh trái phép.

Đối với thắc mắc thứ hai: về vân đề cho vay nặng lãi: theo quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 về lãi suất cho vay trong hợp đồng dân sự, nhận thấy mức lãi suất mà bạn cho vay cao hơn nhiều so với mức lãi suất theo quy định của pháp luật (3 nghìn đồng/triệu/ngày = 0.3%/ngày, tương đương 9%/tháng; trong khi quy định của pháp luật mức lãi suất tối đa là 1.3% × 150%, tương đương 2%/tháng). Trường hợp này, hợp đồng vay của bạn sẽ bị vô hiệu một phần – phần lãi suất cho vay do vi phạm quy định pháp luật. Theo đó, mức lãi suất có thể sẽ được tính theo mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật (2%/tháng).

Vậy, trách nhiệm hình sự có được đặt ra với hành vi này của bạn hay không? Câu trả lời là không. Bởi vì mức lãi suất đó chưa đủ để cấu thành tội cho vay nặng lãi theo quy định tại Điều 163 Bộ luật hình sự năm 1999:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Ý kiến phải hồi của khách hàng:

Em cảm ơn anh đã tư vấn giúp em. Thực sự là em cũng rất sợ trong trường hợp phải kiện tụng vì ít nhiều em cũng đã vi phạm PL. Chắc là em sẽ chờ đến hết hợp đồng 6 tháng rồi đòi lại số tiền đó. Nhưng nếu mà bạn em vẫn cố tình không trả thì em có nên nhờ đến pháp luật không ạ, vì nếu mà nhờ đến PL thì em lại cũng vi phạm. Và có 1 điều nữa là em chắc chắn không thể đòi được lãi như thỏa thuận ban đầu rồi, vậy thì bây giờ em được PL giải quyết với mức lãi bắt bạn e trả là bao nhiêu ạ??? Cảm ơn anh chị rất nhiều ạ.
Người gửi: Dương Văn Thi
Ý kiến bổ sung:

Chào bạn! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chúng tôi. Câu hỏi của bạn tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ điều 471 Bộ Luật Dân sự: “Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.”. Trong trường hợp của bạn, việc bạn cho người bạn kia vay tài sản đó là một giao dịch dân sự chứ không phải một hoạt động kinh doanh thương mại. Do đây là hợp đồng dân sự giữa bạn và người bạn của bạn, nên bạn không cần phải có điều kiện gì ràng buộc hay giấy phép hoạt động kinh doanh. Kể cả trường hợp bạn cho nhiều người vay tiền, thì đó vẫn là việc bạn giao kết nhiều hợp đồng cho vay tài sản chứ không xác định là hoạt động kinh doanh thương mại. Đe dọa của người bạn là không có căn cứ.

Thứ hai, đối với phần lãi thỏa thuận bằng miệng 3 nghìn/ 1 ngày/ 1 triệu. Lãi suất là 3%/ tháng hay 36%/ năm. Lãi suất cơ bản mà ngân hàng nhà nước quy định hiện nay là 9%/ năm. Theo quy định tại điều 476 bộ luật dân sự thì lãi suất do các bên thỏa thuận không vượt quá 150% lãi suất cơ bản, tức là lãi suất hai bên thỏa thuận sẽ không vượt quá 13.5%/năm. Nếu người vay kiện ra tòa, thì người vay sẽ phải trả khoản tiền nợ bao gồm: khoản tiền nợ gốc và lãi suất 13.5% theo quy định của pháp luật. Bạn có thể an tâm trường hợp của bạn không phải là trường hợp cho vay nặng lãi. Căn cứ quy định tại điều 163 Bộ Luật hình sự, "1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến 10 lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.”. Mức lãi suất của bạn chỉ gấp 3 lần, do đó bạn sẽ không bị kiện hình sự. Nếu tranh chấp xảy ra thì đây chỉ là tranh chấp dân sự. Người vay nợ sẽ phải trả cho bạn tiền gốc và lãi theo quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

2. Tư vấn đòi lại xe từ người cho vay nặng lãi ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Chồng tôi có vay nặng lãi nhưng chưa có tiền trả. Hôm trước chồng tôi đi xe của anh trai tôi đi làm thì gặp mấy người cho vay đó, và họ đã lấy xe và giấy tờ xe. Vậy nếu giờ tôi làm đơn khiếu nại thì có thể lấy xe về cho anh trai tôi không?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: C.T

Tư vấn đòi lại xe từ người cho vay nặng lãi ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn như sau:

Căn cứ vào điều 256 Bộ luật dân sự 2005 có quy định về quyền đòi lại tài sản thì " chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Ðiều 247 của Bộ luật dân sự 2005. Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Ðiều 257 và Ðiều 258 của Bộ luật dân sự 2005 ".

Theo đó giấy tờ xe đứng tên anh trai bạn, nên anh bạn là chủ sở hợp pháp của chiếc xe,căn cứ vào quy định trên thì bạn không có quyền khiếu nại đòi lại chiếc xe mà người đứng ra khiếu nại đòi lại chiếc xe phải là anh trai bạn.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

3. Tư vẫn cách xử lý khi bị cho vay nặng lãi ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp:Hiện vợ tôi có đi vay một số người với lãi suất 10000/1 triệu/1 ngày (không thể hiện lãi suất qua giấy tờ vay tiền, không có ghi nhận khi nộp lãi) và không cho tôi biết, đến khi tôi biết thì đã đến gặp và cùng người nhà nói chuyện với người cho vay thanh toán trả khoản tiền mà người cho vay đã báo và cam kết không cho vay nữa (việc này chỉ qua nói chuyện, không có giấy tờ, do không hiểu rõ cách xử lý và muốn giải quyết nhanh gọn).

Sau một thời gian (gần 2 năm), khi vợ tôi hết khả năng chi trả lãi (việc này tôi không biết, vợ tôi đi mượn tiền người thân trong gia đình để trả lãi), thì tôi đã phát hiện vẫn những người này đang thu lãi vợ tôi (10000/1 triệu/1 ngày) và hiện đang đòi trả gốc do vợ tôi đã không thể tiếp tục trả lãi, lãi vợ tôi trả đến bây giờ đã hơn số vốn họ đòi nhiều.

Xin luật sư tư vấn giúp tôi phải làm gì để giải quyết dứt điểm việc này? Tôi phải làm sao khi họ làm áp lực đòi tiền? Đây có phải đã phạm tội hình sự và kiện họ như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.Q.M.T

Tư vẫn cách xử lý khi bị cho vay nặng lãi ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo như nội dung thư mà bạn trình bày, vợ bạn có đi vay một số người với lãi suất 10000/1 triệu/1 ngày (không thể hiện lãi suất qua giấy tờ vay tiền, không có ghi nhận khi nộp lãi). Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay được quy định như sau:

“Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Do đó, để xác định lãi suất vay mà bên cho vay cho vợ bạn vay có vượt quá mức lãi suất cơ bản do Ngân hang nhà nước công bố hay không. Trong trường hợp mức lãi suất vay thực tế của vọ bạn vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố vào thời điểm vay thì mức lãi suất trong hợp đồng vay của vợ bạn sẽ được điều chỉnh lại để không vượt quá mức lãi suất đã nêu trên. Vợ bạn hoặc bạn và vợ bạn (bạn cũng phải trả nợ cùng vợ trong trường hợp khoản vay này dung để phục vụ nhu cầu của gia đình) sẽ có các nghĩa vụ sau theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005:

“Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Tuy nhiên, mức lãi xuất được phép cho vay theo quy định là 370VND/1 triệu/ngày. Trường hợp này bên kia cho vợ bạn vay 10.000/1 triệu/ 1 ngày đã vượt quá 10 lần mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định nên bên cho vay sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 163 Bộ luật hình sự 1999 như sau:

“Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Do đó, trong trường hợp này bạn có thể báo cáo với cơ quan nhà nước có thảm quyền gồm có: cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát để họ tiến hành xác minh, điều tra. Nếu thỏa mãn quy định tại điều 163 của Bộ luật Hình sự 1999 thì bên cho vay sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Do đó, trong trường hợp của bạn, để giải quyết mâu thuẫn, bạn có thể thực hiện các biện pháp sau:

+ Bạn và vợ bạn có thể thỏa thuận với bên cho vay để thống nhất với họ lại mức lãi suất phù hợp với quy định của pháp luật và thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của mình.

+ Trong trường hợp hai bên không thể thỏa thuận được, bạn có thể khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cứ trú, sinh sống hoặc làm việc của bị đơn để có thể tiến hành khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố mức lãi suất vượt quá kia là vô hiệu. Đồng thời, bạn có thể tố cáo hành vi của bên cho vay đến các cơ quan có thẩm quyền như đã nêu trên.

Trân trọng./.

4. Cho vay nặng lãi có phải lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản không ?

Thưa Luật sư: Tháng 5/2014 em mở shop thời trang công sở cho một hãng có tên tuổi ở Hà Nội, do vốn ban đầu ít không đủ xoay vòng tiền hàng nên ngày 7/8 em có vay của một chị 5 triệu với lãi suất 5.000/1.000.000/1 ngày để lấy hàng nhưng do ế ẩm và không đủ doanh thu nên đến ngày 14/8/2014 em lại vay thêm 10 triệu đồng để trang trải tiền thuê cửa hàng và tu sửa lại cửa hàng cũng với lãi suất như trên.

Hợp đồng chỉ có một bản chị ta giữ không cho tôi bản nào và nói rằng khi nào tôi trả hết gốc lãi thì sẽ trả giấy vay nợ gốc cho tôi, lãi suất thoả thuận bằng miệng chứ không ghi trong hợp đồng. Hai tháng đầu chị ta lấy tôi 3 triệu tiền lãi và có một quyển sổ chị ta ghi vào không cho tôi ký cũng không ghi biên nhận cho tôi, những tháng sau chị ta lấy đều mỗi tháng 2.250.000đ (15%/1 tháng) có lần tôi bị tai nạn nên nhờ mẹ tôi ra trả hộ chị ta cầm tiền nhưng không ghi biên lai, mẹ tôi có hỏi thì chị ta nói chỗ chị em quen biết gđ với nhau không cần. Và cứ thế tôi trả đều đặn cho đến hết tháng 6/2015 số tiền lãi tôi đã trả là 21 triệu, đến nay tôi không còn khả năng chi trả (vì từ lâu shop thời trang không bán được phải thanh lý và trả công ty) tôi đi làm thêm cũng chỉ đủ trả lãi cuộc sống khó khăn, ly hôn nuôi con một mình may nhờ ông bà ngoại chăm nom con cái, chị ta biết thế nhưng không giảm tiền lãi cho tôi mà vẫn nhận nhưng không ghi biên nhận cho tôi.

Khi bố mẹ tôi biết chuyện đã suy nghĩ cho tôi tiền trả nhưng phải lấy giấy tờ gốc về và ghi rõ từng ngày trả lãi, tôi ra đặt vấn đề thì chị ta không đồng ý cho tôi hai bản gốc và giấy ra hạn mà viết cho tôi một tờ hợp đồng mới gộp hai khoản trên vào là 15 triệu vào ngày 14/8/2015 rồi không ghi cho tôi chữ sao lại từ hai hợp đồng ngày 7/8 và 14/8. Khi tôi yêu cầu xác nhận cho tôi số tiền lãi đã nhận của tôi mà chính chị ta cũng thừa nhận 21 triệu nhưng chị ta không ký và nói rằng đây là cho vay ngoài không phải ngân hàng nên không ký mà chị ta chỉ đánh dấu vào sổ của chị ta. Bố mẹ tôi mời chị ta đến nhà chơi và nói chuyện tình cảm và yêu cầu chị ta tính lại lãi kể cả gấp đôi lãi suất Ngân hàng cho phép không vượt quá 150% nhưng chị ta không nghe mà còn dở mặt nói rằng nếu tôi không trả đủ 15tr gốc thì sẽ tố cáo tôi ta toà và không thừa nhận số tiền lãi 21tr mà tôi đã trả cho chị ta, chị ta còn chụp ảnh tờ hợp đồng gộp của hai ngày kia và bảo là đã thế tính 30tr tiền gốc.

Thật tình tôi cũng không biết làm thế nào nữa? Bố tôi nói sẽ tố chị ta tội cho vay nặng lãi vì thế chị ta không đòi 15tr gốc nữa mà bảo tôi trả 12tr còn số lãi 21tr kia không có căn cứ chị ta không ký xác nhận. Trừ khi tôi trả đủ 15tr gốc và tiền lãi hai tháng 7 và 8 là 4,5tr thì chị ta mới xác nhận số tiền lãi tôi đã trả 21tr trong thời gian qua mà không hề có biên lai xác nhận. Như vậy có phải chị ta lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tiền của tôi không?

Tôi xin cảm ơn!

Cho vay nặng lãi có phải lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản không ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009) về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Theo như quy định trên, thì người cho bạn vay không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì người cho vay không có hành vi vay hay mượn hoặc thuê tài sản.

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Theo quy định của pháp luật về hợp đồng vay thì không quy định bắt buộc phải thành lập văn bản, do đó hợp đồng vay giữa hai bạn không vi phạm về hình thức. Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp, thì lãi suất hai bên thỏa thuận đã vi phạm quy định của bắt buộc. Đồng thời, hai bên đang có sự tranh chấp. Để giải quyết vấn đề này, bạn có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để đảm bảo quyền và lợi ích của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Tư vấn giải quyết trường hợp vay tiền nặng lãi ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Mẹ tôi có từng vay nóng 50 triệu nhưng quy cách trả lãi thì cứ một triệu thì một tháng phải trả 1 triệu 2 và cứ vậy nhân cho 50 triệu thì một tháng mẹ tôi phải trả 10 triệu tiền lãi.

Tôi là người luôn đi nộp tiền và trong một năm mỗi ngày mẹ tôi bình quân phải góp 500.000 cho ngừơi ta nhưng góp gần hai năm vẫn không hết và nếu chỉ đóng trễ hai ngày là họ có biểu hiện đe dọa đánh và bắt cóc người thân của tôi.Vậy cho tôi hỏi có biện pháp nào để cứu vãn không? vì sau hai năm đó vì không chịu được áp bức nên nhà tôi phải di dân sang tỉnh khác sống và rất sợ. Có cách nào có thể giúp gia đình tôi không, dù là kiện và bị đóng phạt nhưng có thể xóa bỏ nợ lãi và cho họ bị pháp luật trừng phạt.

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: P.H

Tư vấn giải quyết trường hợp vay tiền nặng lãi ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Về hành vi cho vay nặng lãi:

Theo quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 có quy định như sau:

" Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Như vậy trong trường hợp này thì pháp luật chỉ thừa nhận đối với phần lãi suất không vượt quá 150%/ năm theo lãi suất của ngân hàng nhà nước. Như vậy hiện nay lãi suất của Ngân hàng nhà nước là 9%/năm. Vì vậy lãi suất cho vay không được vượt quá 13,5%/năm ( 1,125%/ tháng).

Nếu mức lãi suất vượt quá 10 lần lãi suất cho vay của ngân hàng nhà nước tại thời điểm vay thì người cho vay có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 163 Bộ luật hình sự 2009 như sau:

" Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Về hành vi đe dọa đánh và bắt cóc người thân:

Bạn cần có căn cứ chứng minh về việc bị đe dọa tới cơ quan có thẩm quyền để bảo vệ quyền lợi. Tuy nhiên, nếu hành vi đánh và bắt cóc chưa xảy ra thì người thực hiện hành vi này chỉ bị cảnh cáo, nhắc nhở. Bạn có thể tham khảo một số quy định của pháp luật về hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản tại Điều 134 Bộ luật hình sự như sau:

" Điều 134. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Đối với trẻ em;

e) Đối với nhiều người;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

h) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

i) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười tám năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

KẾT LUẬN: Trong trường hợp này bạn có thẻ làm đơn tố cáo ra cơ quan công an để công an vào cuộc điều tra. bên cạnh đó bạn cần cung cấp cho công an những giấy tờ, tài liệu liên quan như hợp đồng vay giữa hai bên,...chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm tới sức khẻ, danh dự, nhân phẩm của gia đình bạn ( nếu có )

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi 1900.6162

Trân trọng./.

6. Hình thức xử lý trường hợp cho vay nặng lãi

Thưa luật sư, Em là sinh viên năm cuối, em có vay ở hiệu cầm đồ số tiền 15 triệu đến nay hơn 1 năm họ tính lãi cho em lên tổng là 40 triệu. Em có để lại 1 thẻ sv lãi suất 4k/triệu/ngày. Em có xin họ cho bớt lãi nhưng họ không cho ngược lại còn đe dọa đánh em, chửi bới, tìm em. Nếu em không trả 40 triệu thì họ sẽ đưa lên nhà trường, làm cho tinh thần em hoang mang và lo sợ.

Luật sư cho em hỏi nếu đưa lên nhà trường thì em có bị đuổi học không. Và nếu em báo công an thì có ảnh hưởng tới học tập của em không? hình thức em bị phạt như thế nào đối với pháp luật và chủ nợ có vi phạm pháp luật không và hình thức như thế nào ạ ?

Em xin cảm ơn luật sư.

Người gửi: T.T.

Hình thức xử lý trường hợp cho vay nặng lãi

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gủi câu hỏi tới chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Vấn đề thứ nhất, về việc đuổi học. Bạn không thuộc trường hợp bị đuổi học theo quy định tại khoản 4 Điều 6Quyết định số 25/2006/QĐ - BGDĐT của Bộ trưởng bộ giáo dục về Ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy nói trên. Cụ thể:

"4. Sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a) Có điểm trung bình chung học tập của năm học dưới 3,50;

b) Có điểm trung bình chung tất cả các học phần tính từ đầu khóa học dưới 4,00 sau hai năm học; dưới 4,50 sau 3 năm học và dưới 4,80 sau từ 4 năm học trở lên;

c) Đã hết thời gian tối đa được phép học tại trường theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Quy chế này;

d) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 19 của Quy chế này;

Chậm nhất là một tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, trường phải thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Trường hợp tại trường có các chương trình ở các trình độ thấp hơn hoặc có các chương trình giáo dục thường xuyên tương ứng thì những sinh viên thuộc các diện quy định tại các điểm a, b và c khoản này được quyền xin xét chuyển qua các chương trình đó và được bảo lưu một phần kết quả học tập ở chương trình cũ khi học ở các chương trình mới này. Hiệu trưởng quyết định kết quả học tập được bảo lưu cho từng trường hợp cụ thể."

Do bạn không thuộc vào các trường hợp bị buộc thôi học nói trên nên nếu bên cho vay đưa vụ việc lên nhà trường thì bạn vẫn không bị đuổi học.

Vấn đề thứ hai, nếu bạn báo công an thì trong quá trình điều tra, giải quyết, cơ quan công an có thể triệu tập bạn đến để giải quyết. Nên có thể ảnh hưởng đôi chút đến thời gian học tập của bạn. Theo pháp luật trước đây việc cầm cố giấy tờ tùy thân là hành vi vi phạm pháp luật. Bạn có thể tham khảo tại Điều 12 Nghị định số 167/2013/N Đ - CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, Nghị định trên đã hết hiệu lực vì được thay thế bằng Nghị định mới nhất là Nghị định 167/2013/NĐ - CP. Tại Điều 9 của Nghị đình quy định:

Điều 9. Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chứng minh nhân dân
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Không xuất trình chứng minh nhân dân khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền;
b) Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về cấp mới, cấp lại, đổi chứng minh nhân dân;
c) Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thu hồi, tạm giữ chứng minh nhân dân khi có yêu cầu của người có thẩm quyền.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng chứng minh nhân dân của người khác để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;
b) Tẩy xóa, sửa chữa chứng minh nhân dân;
c) Thuê, mượn hoặc cho người khác thuê, mượn chứng minh nhân dân để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật.
3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Khai man, giả mạo hồ sơ, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được cấp chứng minh nhân dân;
b) Làm giả chứng minh nhân dân;
c) Sử dụng chứng minh nhân dân giả.
4. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi thế chấp chứng minh nhân dân để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật.
5. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều này.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc thu hồi chứng minh nhân dân đối với hành vi quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này.

Như vậy, pháp luật hiện nay chỉ xử phạt hành chính với hành vi như tẩy xóa... đối với chứng minh thư nhân dân, bỏ quy định đối với giấy tờ tùy thân. Nên hành vi cầm cố giấy tờ tùy thân của bạn là không vi phạm pháp luật. Do đó, bạn sẽ không bị xử lí gì.

Vấn đề thứ ba, chủ nợ của bạn, tức chủ hiệu cầm đồ có vi phạm pháp luật. Dựa trên:

- Lãi suất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 quy định về lãi suất cho vay: “1.Lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.” Về lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, tại Điều 1 Quyết định 2868/QĐ-NHNN quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm. Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/năm và lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng. Theo thông tin bạn cung cấp, với mức lãi suất do hai bên thỏa thuận là 120.000 đồng/tháng khi vay 40.000.000. Như vậy, mức lãi suất ở đây là 12%/tháng. Với mức lãi suất như vậy đã vượt quá lãi suất theo quy định của bộ luật dân sự năm 2005 (gấp hơn 10 lần lãi suất quy định). Mọi hợp đồng vay tiền có mức lãi suất thỏa thuận vượt quá giới hạn trên đều bị coi là vô hiệu một phần đối với phần lãi suất vượt trần lãi suất mà pháp luật quy định.

Từ căn cứ trên, xét theo khoản 1 Điều 163 Bộ luật hình sự 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về tội cho vay nặng lãi như sau: "1.Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm." Với mức lãi suất 12%/tháng tức 144%/năm đã vượt quá mười lần mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định. Trong trường hợp này, chủ hiệu cầm đồ đã có dấu hiệu cấu thành tội cho vay nặng lãi quy định tại khoản 1 Điều 163 Bộ luật hình sự và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, bạn có mang giấy tờ vay nợ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp quận, huyện trên địa bàn hiệu cầm đó đó để tố cáo hành vi trên của chủ hiệu cầm đồ. Theo như quy định tại điều trên thì chủ hiệu cầm đồ có thể bị phạt tiền từ một đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi, cảm ơn bạn gửi câu hỏi tới chúng tôi. Nếu còn thắc mắc gì bạn có thể liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi 1900.6162 để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật MInh Khuê