Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự 2005

Bộ luật Dân sự năm 2015

Luật thi hành án dân sự 2008

2. Nội dung tư vấn:

Theo quy định tại điều 471 Bộ luật Dân sự 2005 về hợp đồng vay tài sản, pháp luật không bắt buộc hợp đồng vay phải lập thành văn bảncó công chứng cũng như không yêu cầu các bên phải nêu rõ ngày trả nợ và mục đích vay tài sản:

"Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Như vậy, hợp đồng vay mà bạn đã lập nếu không vi phạm các quy định của pháp luật về mặt nội dung cũng như hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện của các bên kí kết hợp đồng thì hợp đồng sẽ phát sinh hiệu lực pháp lí và được pháp luật công nhận.

Nếu bạn còn lưu giữ đầy đủ các giấy tờ chứng minh việc cho vay thì bạn có thể khởi kiện ra tòa để đòi lại quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Các giấy tờ cho vay này sẽ là bằng chứng quan trọng để bạn chứng minh quan hệ cho vay tồn tại giữa bạn và người bạn kia cũng như để tòa chấp nhận yêu cầu đòi nợ của bạn. Tuy nhiên, khi giao dịch bằng giấy tờ viết tay, giá trị pháp lý của giao dịch là căn cứ để Tòa thụ lý vụ án của bạn. Theo đó, Nếu các bên không thừa nhận giao dịch trên, Bạn cần yêu cầu giám định chữ ký của người vay nhằm làm cơ sở chứng minh sự tồn tại của giao dịch trên.

Trong trường hợp yêu cầu đòi nợ của bạn được tòa chấp nhận, bạn có thể yêu cầu bên kia thực hiện bản án của tòa. Nếu bên vay không thực hiện nghĩa vụ theo bản án của tòa, bạn có thể gửi đơn yêu cầu cơ quan thi hành án hỗ trợ cho bạn trong việc này trong thời hạn cho phép quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 như sau:

" Điều 30. Thời hiệu yêu cầu thi hành án

1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

2. Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

3. Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án."

. Theo đó, thủ tục thi hành án được quy định cụ thể như sau:

" Điều 45. Thời hạn tự nguyện thi hành án

1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.

2. Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này.

Điều 46. Cưỡng chế thi hành án

1. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.

2. Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định."

Như vậy, khi người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì cơ quan thi hành án có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế quy định tại Điều 71 Luật thi hành án dân sự năm 2008 như sau:

" Điều 71. Biện pháp cưỡng chế thi hành án

1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.

2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.

4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.

5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.

6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định."

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn.Hy vọng đã giúp bạn giải quyết vấn đề. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê