Lần hai ngày 12/12/2014 số tiền 5 000 000 nhưng chưa đóng lãi suất hạn trả một tháng . Nhưng tới nay đã quá hạn trả tiền mà bạn tôi vẫn không trả tiền lãi và tiền gốc tôi có đòi bạn tôi trả tiền gốc thoi ,nhưng bạn tôi bảo không trả còn dọa sẽ kiện tôi vì cho vay nặng lãi. Thưa luật sư trả lời giúp như vậy lãi suất 30% một tháng vậy tôi có phạm tội không và tôi có thể lấy lại tiền gốc không ?

Xin luật sư hãy tư vấn giúp.

Xin cảm ơn!

Người hỏi: tuan duong thanh

Câu hỏi được biên tập từchuyên mục hỏi đáp pháp luậtcủa Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Với câu hỏi của bạn, Công ty Luật Minh Khuê xin được hỗ trợ giải đáp như sau:

Về căn cứ pháp lý:

- Bộ luật Dân sự 2005

- Bộ luật Hình sự 1999

- Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 

Căn cứ theo khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”.

Hậu quả pháp lý: Khi có tranh chấp xảy ra thì Nhà nước không bảo vệ quyền lợi cho bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây viết tắt là Quyết định 2868) quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm, có hiệu lực từ ngày 01/12/2010.

Từ đó, chúng ta hoàn toàn có thể tính được mức lãi suất tối đa mà các bên thỏa thuận không được vượt quá trên 1 năm sẽ là 13,5%     (9x150%), trên 1 tháng là 1,125% (13,5%/12).

Như vậy, với việc cho vay với mức lãi suất 30   %/tháng là hành vi vi phạm pháp luật, mà trước hết là vi phạm pháp luật dân sự về việc áp dụng lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự nói trên. 

Bên cạnh đó, Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2.  Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3.  Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo quy định của Điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn    2 dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Như vậy theo tính toán nêu trên thì mức lãi suất tối đa mà các bên thỏa thuận không được vượt quá trên một năm sẽ là 13,5%  (9x150%), trên 1 tháng 1,125% (13,5%/12) và thực tế là bạn đã cho vay với mức lãi suất 30%/tháng cao hơn gấp gần 26,67 lần so với quy định của pháp luật (đã thỏa mãn điều kiện này).

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Như vậy, hành vi cho vay nặng lãi  của bạn như trên mà thỏa mãn điều kiện thứ hai thì hành vi cho vay bạn hỏi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bạn muốn lấy lại số tiền gốc với tiền lãi  theo pháp luật quy định, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự. Khi khởi kiện ra tòa án thì bạn chỉ được hưởng lãi suất là 1,125%/   năm. Đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước quyền lợi của bạn sẽ không được bảo vệ.

Trên đây là những giải đáp từ phía công ty chúng tôi cho thắc mắc của bạn. Nếu còn vướng mắc nào khác, bạn có thể liên hệ trực tiếp đến công ty để được hỗ trợ.

Trân Trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ