1. Cho vay với lãi suất thế nào là hợp pháp ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em nên cho vay với lãi suất là 1500/1triệu/ngày...hay 2000/1triêu ngày..hoặc 3000/1triệu/ngày. với 3 mức trên thì mức nào hợp pháp ạ?
Cảm ơn!

Cho vay với lãi suất thế nào là hợp pháp ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài, gọi số: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội có quy định về lãi suất vay như sau: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 :12 = 1,125%/tháng.

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng là: 13,5 :12 = 1,125%/tháng thì 1 ngày là 1,125 : 30 = 0,0375%

Thì bạn cho vay hợp pháp trong trường hợp này tối đa là 375 đồng/1 triệu/ngày.

Thưa luật sư, xin hỏi: Bố em là lao động chính trong nhà. Bố em mới mất. Để lại khoản nợ ngân hàng 400.000.000 đ cho em. Nhà có 2 anh em. Em năm nay 20 tuổi. Mới đi học đại học được 1 năm nhưng do điều kiện không cho phép nên chưa biết có theo hoc tiếp hay không. Em gái mới đi hoc cấp 2. Mẹ thì ốm. em xin hỏi có cách nào khoanh lãi ngân hàng lại đươc hay không. Để 2 anh em có điều kiện đi học tiếp

=> Bạn làm thủ tục xin gia hạn nợ với bên ngân hàng. Vì trường hợp này pháp luật không quy định cụ thể mà chỉ dựa vào sự thỏa thuận giữa bạn và ngân hàng thôi.

Thưa luật sư, xin hỏi: Hiện tại ở địa phương em đang sinh sống có bọn cho vay nặng lãi, gia đình và bạn bè em đã rất nhiều người vướng mắc phải bọn chúng. Em muốn luật sư tư vấn giúp em, em cần làm gì để đủ điều kiện pháp lý đưa bọn chúng ra trước pháp luật, để pháp luật trừng trị ạ?

=> Trước hết bạn cần phải thu thập bằng chứng về việc cho vay nặng lãi của họ như là giấy vay nợ, băng ghi âm, ghi hình việc cho vay vỡi lãi suất cao. Thông tin về tên, địa chỉ, số điện thoại, ảnh của những người cho vay nặng lãi (nếu có). Sau đó bạn làm đơn tố cáo gửi cơ quan công an:

Để thực hiện việc tố cáo, cần có trình tự tố cáo được quy định theo Luật tố cáo như sau:

Khi làm đơn, người tố cáo phải làm đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền qua đường bưu điện hoặc đến trực tiếp cơ quan.

Trong đơn tố cáo cần có nội dung chính gồm:

+ Tên cơ quan nhận đơn;

+ Họ, tên, địa chỉ của người tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại (nếu có);

+ Họ, tên, địa chỉ của người bị tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền và nghĩa vụ liên quan;

+ Nêu rõ hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo; những vấn đề cụ thể yêu cầu cơ quan tiếp nhận Đơn tố cáo giải quyết và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc tố cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Thưa luật sư, xin hỏi: năm 2012 tôi có cho một người vay một số tiền là 700.000.000 VNđ lãi suất là 5% trên một tháng .Đến nay người vay không trả có ý định kiện tôi tội cho vay nặng lãi .Vậy xin Luật Sư cho biết cho vay như thế có bị coi là cho vay nặng lãi không . nếu phải là cho vay nặng lãi thì bị áp vào khung hình phạt thế nào?

=> Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội (Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội) quy định:

"Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Mà lãi suất tối đa pháp luật quy định hiện nay là 1,125%/tháng. Vây bạn cho vay với lãi suất 5%/tháng thì chưa gấp 10 lần lãi suất quy định nên trường hợp này bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình quy định:

"3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
...
d) Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay."

Thưa luật sư, xin hỏi: Chồng em có cho một người bạn vay 160 triệu từ tháng 8/2015 và hứa 4 tháng sau thì trả cả gốc lẫn lãi tiền lãi thì tính theo lãi suất ngân hàng nhưng từ đó cho đến nay người đó vẫn chưa trả cả gốc và lãi mà chồng em có đòi thì toàn thất hẹn và gần một tháng nay là người đấy đã trốn khỏi nơi cư trú và tắt máy không liên lạc được. vậy luật sư cho em hỏi là chồng em có khởi kiện được người đó ko và khi cho vay thì chồng em và người đó đã viết giấy hợp đồng vay tiền chỉ có chữ ký của 2 bên vậy cho em hỏi tờ giấy đó có giá trị pháp lý không?

Giấy vay tiền có chữ ký của hai bên dù không công chứng vẫn có giá trị trước pháp luật. hiên nay nguwoif này đã có hành vi bỏ trốn vì thế chồng bạn có thể khởi kiện người này ra Tòa án với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;"

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có mua trả góp 1 chiếc xe taxi. em đã ký hợp đồng từ tháng 1 năm 2016. nhưng đến bây giờ em vẫn không nhận lại được hợp đồng em đã ký. hàng tháng em vẫn nộp tiền đầy đủ nhưng em xin gặp lãnh đạo để nói chuyện về tiền lãi và công nợ thì nhân viên hành chính cứ nói chưa có thời gian. Em nghĩ rằng công ty có dấu hiệu lừa đảo và o ép những người lao động. nếu phải kiện thì em phải kiến nghị với cơ quan nào a?

Bạn có thể làm hồ sơ khởi kiện gửi lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi diện ra sự việc mua xe. Tuy nhiên tại thời điểm hiện tại bạn chưa biết có phải công ty lừa đảo hay không nên bạn có thể làm đơn tố cáo lên cơ quan công an để cơ quan công an tiến hành điều tra làm rõ vụ việc.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Vay tiền cho người khác vay để quay lãi nóng (lãi suất cao) có nên trình báo công an khi họ không trả nợ ?

Thưa luật sư, Mẹ tôi có nghe lời ngon ngọt của một người Quý khách và mẹ em đứng ra quay tiền cho người Quý khách đó (quay lãi nóng, lãi suất cao), nhưng giờ người Quý khách đó không chịu trả, kéo dài nhiều năm. Bây giờ tổng tiền quay và tiền lãi khoảng 100 – 160 triệu. Xin hỏi quý luật sư, mẹ tôi và gia đình tôi có nên trình báo công an hay không? Người Quý khách của mẹ có phạm tội gì không? Tôi xin cám ơn.

Luật sư tư vấn:

Thưa quý khách, Công ty Luật MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

Phân tích vấn đề: Đầu tiên, Quý khách cần xác định mẹ Quý khách là người đứng ra vay tiền hay là người bảo lãnh cho người đó vay tiền (Tạm gọi người đó là A) và khi thực hiện việc vay tài sản hai bên có thông qua hợp đồng hay văn bản không? hợp đồng hay văn bản đó có được công chứng hay chứng thực hay không?. Qua đó, việc xác định trách nhiệm sẽ phụ thuộc vào nội dung hợp đồng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, có thể đặt ra hai giả thiết sau:

1. Trường hợp 1: Mẹ Quý khách là người đứng ra vay tiền hộ A

A, Phân tích nội dung:

Trong trường hợp này sẽ có hai quan hệ pháp luật được hình thành, quan hệ thứ nhất là quan hệ vay tài sản giữa mẹ Quý khách và bên cho vay; quan hệ thứ hai là quan hệ vay tài sản giữa A với mẹ Quý khách.

Có thể thấy, vấn đề này liên quan trực tiếp đến mối quan hệ thứ hai, là quan hệ vay tài sản giữa A và mẹ Quý khách.

B, Bảo vệ quyền lợi khách hàng

Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 (văn bản thay thế: Bộ luật dân sự năm 2015) thì việc vay tài sản được quy định như sau:

Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.”.

Cùng với đó, Điều 401 BLDS cũng quy định về hình thức của hợp đồng như sau:

Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự

1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Theo đó, Hợp đồng vay tài sản cụ thể là hợp đồng vay tiền có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng một hành vi cụ thể.Và hình thức của hợp đồng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng.

Về nghĩa vụ trả nợ:

Điều 474 BLDS 2005 cũng quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Như vậy, để đảm bảo thủ tục tố tụng mẹ Quý khách cần gặp trực tiếp A và thỏa thuận về việc trả nợ. Hai bên nên thành lập một văn bản ghi rõ thời hạn bên A sẽ trả nợ. Việc thỏa thuận bằng văn bản nên được thực hiện tại phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND xã, phường, thị trấn để đảm bảo giá trị pháp lý. Căn cứ vào thời hạn đã thỏa thuận và thực tế, Mẹ Quý khách có thể bảo vệ quyền lợi thông qua các tình huống cụ thể sau:

-Tình huống thứ nhất: A không có hành vi trốn tránh việc trả nợ hoặc không có hành vi bỏ trốn khỏi nơi cư trú: Trong trường hợp này, mẹ Quý khách có thể khởi kiện đòi tài sản theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, việc khởi kiện vụ án dân sự cần đảm bảo điều kiện về thời hiệu khởi kiện quy định tại khoản 3 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong “Phần thứ nhất” của bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

“3. Đối với trQuý khách chấp dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự (hợp đồng vay tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản, thuê tài sản, thuê khoán tài sản, hợp đồng gia công, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất), thì giải quyết như sau:

a) Đối với trQuý khách chấp phát sinh từ giao dịch dân sự thì áp dụng thời hiệu quy định trong văn bản quy phạm pháp luật tương ứng đối với loại giao dịch đó”.

Như vậy, căn cứ Theo quy định tại Điều 427 BLDS thì thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng vay tài sản là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của mẹ Quý khách bị xâm phạm.

Quý khách cần chú ý về mức lãi suất vay:

Quý khách cần xác định thêm là mức lãi suất mà mẹ Quý khách và A đã thỏa thuận, nếu mức lãi suất vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố (Lãi suất cơ bản là 9%/năm) thì Tòa án sẽ tuyên vô hiệu đối với phần lãi suất vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản của ngân hàng và chỉ yêu cầu A trả nợ ở mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật.

-Tình huống thứ hai: A có hành vi trốn tránh việc trả nợ hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó:

A, Phân tích nội dung

Trường hợp này, Quý khách cần xác minh khi nhờ mẹ Quý khách vay tiền hộ, A có đưa ra những thông tin gian dối, trái sự thật để mẹ Quý khách tin tưởng vay tài sản hộ A hay không?

1. Nếu trước khi nhờ mẹ Quý khách vay tiền, A đưa ra những thông tin sai trái, không đúng sự thật hoặc ngụy tạo một chứng cứ giả nào đó để mẹ Quý khách tin tưởng vay tiền hộ A, thì mẹ Quý khách có thể tố cáo A về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015) như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng dQuý khách nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

2. Nếu trước khi nhờ mẹ Quý khách vay tiền mà A không dùng thủ đoạn gian dối hoặc đưa ra những thông tin sai sự thật nhằm để mẹ Quý khách tin tưởng. Nhưng sau khi có được số tài sản đó, A lại dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn không trả nợ (nhằm chiếm đoạt tài sản), thì mẹ Quý khách có thể tố cáo A về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 như sau:

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng dQuý khách nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.”

B, Bảo vệ quyền lợi khách hàng

Khi có căn cứ nêu trên về hành vi của A, Mẹ Quý khách có thể thực hiện tố cáo tội phạm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 200. Theo đó, Mẹ Quý khách viết đơn tố cáo và gửi đơn tố cáo kèm theo những chứng cứ liên quan tới cơ quan công an nơi xảy ra hành vi phạm tội hoặc nơi A đang cư trú. Nội dung đơn cần trình bày rõ về nội dung tố cáo và nhân thân của người tố cáo và người bị tố cáo.( Mẫu đơn Quý khách tham khảo TẠI ĐÂY). Thời hạn giải quyết đơn tố cáo theo quy định là không quá 90 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được đơn tố cáo.

Về việc vay nợ giữa mẹ Quý khách và người cho vay :

Quý khách cần lưu ý là quan hệ pháp luật thứ nhất giữa mẹ Quý khách và bên cho vay vẫn tồn tại và có giá trị pháp lý nếu các bên đưa ra được căn cứ. Trong quan hệ đó, mẹ Quý khách vẫn là chủ thể vay và phải thực hiện việc trả nợ theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp 2: Mẹ Quý khách bảo lãnh cho A vay tiền

Điều 361. Bảo lãnh

Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.”

Theo quy định tại Điều 41 - Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh như sau:

Điều 41. Căn cứ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Căn cứ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định, bao gồm các trường hợp sau đây:

1. Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh;

2. Bên được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ đó, nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ;

3. Bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ;

4. Các căn cứ khác, nếu pháp luật có quy định.”

Bên cạnh đó, Điều 367 BLDS cũng quy định về quyền của bên bảo lãnh như sau:

Điều 367. Quyền yêu cầu của bên bảo lãnh

Khi bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi bảo lãnh, nếu không có thoả thuận khác.”

Như vậy, theo quy định của pháp luật, trong trường hợp mẹ Quý khách bảo lãnh cho A vay tiền thì mẹ Quý khách có nghĩa vụ trả nợ bên cho vay khi đến hạn trả nợ nếu A không thực hiện hoặc không thực hiện được. Sau đó, mẹ Quý khách có thể yêu cầu A thực hiện nghĩa vụ đối với mình theo quy định của pháp luật.

Trân trọng!

3. Hỗ trợ lãi suất cho khoản vay mua ngoại tệ nhập khẩu ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Ngân hàng chúng tôi đã thực hiện hỗ trợ lãi suất cho 01 khoản vay mua ngoại tệ nhập khẩu lô hàng của khách hàng do tại thời điểm giải ngân hồ sơ khách hàng cung cấp hoàn toàn đủ căn cứ (HĐKT, Hóa đơn VAT, Biên bản giao hàng, Phiếu nhập kho, Báo cáo tồn kho) và khoản vay được bảo đảm bằng chính lô hàng này.

Tuy nhiên sau khi đi kiểm tra phát hiện thấy khách hàng đã thuê một công ty khác gia công lô hàng rồi bán lại cho một công ty X, công ty X này lại vay Ngân hàng khác để thanh toán. Như vậy công ty đã không sử dụng vốn vay đúng mục đích cam kết, ngân hàng chúng tôi có phải thu hồi số tiền đã hỗ trợ lãi suất cho công ty không?

Gửi bởi: Nguyễn Thị Thu Thủy

Hỗ trợ lãi suất ?

Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162


Trả lời:

Theo nội dung thông tin bạn hỏi, chúng tôi cung cấp một số quy định của pháp luật để bạn tham khảo như sau:

Theo quy định tại khoản 2, Điều 56, Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, đã được sửa đổi bổ sung năm 2004 thì, “Khách hàng vay có những nghĩa vụ sau đây:

a) Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu này;

b) Sử dụng tiền vay đúng mục đích và thực hiện đúng các nội dung khác đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng;

c) Trả nợ gốc và lãi tiền vay theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng;

d) Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng hợp đồng tín dụng.”

Điều 6, Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ban hành Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy định:

“Điều 6. Nguyên tắc vay vốn

Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo:

1. Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.

2. Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.”

Đồng thời, theo quy định tại Điều 54, Luật Các tổ chức tín dụng, Điều 25 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN thì:

“1. Tổ chức tín dụng có quyền:

a) Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay;

b) Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay vốn, dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của Pháp luật hoặc tổ chức tín dụng không có đủ nguồn vốn để cho vay.

c) Kiểm tra, giám sát quả trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng;

d) Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng;

đ) Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc người bảo lãnh theo quy định của pháp luật.

e) Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có thoả thuận khác, thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp khách hàng được bỏ lãnh vay vốn;

g) Miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo quy định tại Quy chế này; mua bán nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và thực hiện việc đảo nợ, khoanh nợ, xoá nợ theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”

Như vậy, tổ chức tín dụng có thể thực hiện quyền của mình trong trường hợp khách hành vi phạm theo các quy định chúng tôi viện dẫn ở trên.

Các văn bản liên quan:

Luật 20/2004/QH11 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng

Luật 02/1997/QH10 Các tổ chức tín dụng

Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

(Note: Bài viết có dẫn chiếu nhiều văn bản đã hết hiệu lực hoặc đã bị thay thế/Quý khách hàng lưu ý khi áp dụng)

Trân trọng./.

4. Ngân hàng nhà nước Việt Nam có nên điều hành lãi suất cơ bản bằng khung lãi suất ?

Lãi suất cơ bản nội tệ là một trong các công cụ của chính sách tiền tệ, do Thống đốc Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) điều hành. Căn cứ vào lãi suất cơ bản, các ngân hàng thương mại (NHTM) định ra lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của mình.

Ngân hàng nhà nước ViệtNam nên điều hành lãi suất cơ bản bằng khung lãi suất

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản nội tệ là một trong các công cụ của chính sách tiền tệ, do Thống đốc Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) điều hành. Căn cứ vào lãi suất cơ bản, các ngân hàng thương mại (NHTM) định ra lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của mình.

Tùy theo trình độ quản lý kinh tế vĩ mô của mỗi nước hoặc vùng lãnh thổ mà Thống đố NHTƯ có cách điều hành lãi suất cơ bản khác nhau. Cục Dự trữ liên bang Mỹ (NHTƯ – Fed) điều hành lãi suất cơ bản bằng lãi suất cho vay qua đêm giữa Fed với NHTM hoặc NHTM với nhau, vì nước Mỹ có hai loại ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại tiểu bang và Ngân hàng Thương mại liên bang.

Một số ngân hàng tư như ở Châu Âu điều hành lãi suất cơ bản bằng lãi suất liên ngân hàng – lãi suất cho vay ngắn hạn giữa các NHTM với nhau. NHTƯ Trung Quốc, NHTƯ cộng hòa Pháp… điều hành lãi suất cơ bản bằng, khung lãi suất (intérêt cadré). Vậy “Khung lãi suất” nghĩa là gì? “Khung lãi suất”, gồm: a/ Lãi suất thấp nhất huy động vốn kỳ hạn 12 tháng của NHTM – gọi là “sàn lãi suất”, nhằm đảm bảo quyền lợi bên gửi tiền; b/ Lãi suất cao nhất cho vay ngắn hạn của NHTM, gọi là “trần lãi suất”, nhằm bảo vệ quyền lợi bên vay tiền. Từ “sàn” đến “trần”, là “khung lãi suất”. Mỗi NHTM của một số nước được nâng “sàn” và hạ “trần” lãi suất. Hai hành vi ấy có lợi cho bên gửi tiền và bên vay tiền, nhưng NHTM bị giảm lãi suất. Ngoài ra, mỗi NHTM có quyền quy định lãi suất huy động vốn dưới 12 tháng; lãi suất huy động vốn từ 12 tháng trở lên (trung, dài hạn) và lãi suất cho vay trung dài hạn, theo biên độ do NHTƯ quy định..

Hiện nay, NHTƯ Trung Quốc không cho các NHTM nâng “sàn lãi suất”, nhưng được hạ “trần lãi suất” tối đa 10%, riêng cho vay tiêu dùng được hạ “trần lãi suất” 30%.

Từ ngày 15/9/2007 đến ngày 27/11/2008, NHTƯ Trung Quốc 4 lần hạ “khung lãi suất”, trong đó “sàn lãi suất” từ 3.87% năm hạ xuống 2,52% năm; “trần lãi suất” từ 7,29% năm hạ xuống 5,58% năm. Chênh lệch giữa “trần lãi suất” với “sàn lãi suất” từ 3,42% năm (7,29% – 3,87% = 3,42%) hạ xuống 3,33% năm (5,58% – 2,52% = 3,06%).

Năm 2007, Trung Quốc lạm phát 4,8% năm, người gửi tiền NHTM kỳ hạn 12 tháng, chỉ có lãi suất danh nghĩa mà không có lãi suất thực. Tức là “sàn lãi suất” nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát/năm-0.93%/năm (3,87% – 4,8% = -0,93%/năm) và năm 2008 cũng tương tự như năm 2007.

Thống đốc NHTM Việt Nam điều chỉnh lãi suất cơ bản

Từ 1/8/1998, Luật Ngân hàng nhà nước (NHHN) có hiệu lực, Thống đốc NHHN VIệt Nam thay đổi lãi suất cơ bản nhiều lần. Từ tháng 6/2002 đến nay, Thống đốc NHNN VIệt Nam điều hành lãi suất cơ bản gồm các mức: 7,25%/năm; 8,255/năm; 8,75%/năm; 12%/năm; 14%/năm; 13%/năm; 12%/năm; 11%/năm; 10%/năm; tháng 12/2008 là 8,5%/năm. Theo thống đốc NHNN Việt Nam, lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay thấp nhất của NHTM đối với khách hàng tốt nhất. Lãi suất cho vay tối đa của mỗi NHTM bằng 150% lãi suất cơ bản. Nhưng, Thống đốc NHNN không nói rõ lãi suất cho vay trên là lãi suất cho vay ngắn hạn hay lãi suất cho vay trung hoặc dài hạn! Ngược lai, các NHTM huy động vốn ngắn hạn (dưới 12 tháng) cao hơn lãi suất cơ bản. Hiện nay, lãi suất tín dụng ngân hàng của Việt Nam cao nhất trong khu vực. Hiệu ứng, những có nhiều tiên không muốn kinh doanh mà gửi tiền vào NHTM lợi hơn. Nhiều DN kinh doanh trì trệ do thiếu vốn mà không vay, vì lãi suất cho vay của NHTM quá cao.

Đầu năm 2008, Thống đốc NHNN Việt Nam đề nghị UBTV Quốc sửa Khoản 1, Điều 476, Bộ Luật dân sự năm 2005. UBTV Quốc hội không chấp nhận, vì Khoản 12, Điều 9, Luật NHNN là cơ sở cho Khoản 1, Điều 476, Bộ Luật dân sự năm 2005. Như vây, Khoản 1, Điều 476, Bộ Luật dân sự năm 2005, áp dụng khi bên cho vay không phải là NHTM. Lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay phải dựa vào lãi suất cơ bản của NHNN Việt Nam.

Khoản 1, Điều 1, Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 của Thống đốc NHNN Việt Nam về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, viết: “Các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động, lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố để áp dụng trong từng thời kỳ”. NHNN Việt Nam soạn thảo Quyết định trên không rõ ràng, nên giám đốc chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện Gia Lâm (Hà Nội) huy động vốn ngắn hạn với lãi suất 21%năm.

Từ ngày thành lập Ngân hàng quốc gia (6/5/1951), nay là NHNN Việt Nam. lãi suất cho vay, gồm: lãi suất cho vay ngắn hạn, lãi suất cho vay trung dài hạn, lãi suất nợ quá hạn. Lãi suất nợ quá hạn của hai loại cho vay trên, bằng 150% lãi suất ghi trong khế ước. Thử hỏi, hiện nay,bên vay đã chịu lãi suất vay bằng 150% lãi suất cơ bản, nếu món vay đó bên vay bị chuyển sang nợ quá hạn sẽ là bao nhiêu>

Thống đốc NHNN đưa ra lãi suất cơ bản cao, khiến Bộ Tài chính phát hành trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu công trình và Kho bạc Nhà nước phát hành tín phiếu Kho bạc gặp nhiều khó khăn. Năm 2008, Bộ Tài chính tổ chức đấu thầu trái phiếu Chính phủ nhiều phiên không thành công; tín phiếu Kho bạc hầu như tê liệt.

Nước ta lạm phát quá cao, nhưng mang nội dung trì trệ. Biểu hiện hàng hóa không thiếu, nhưng sức mua của dân chúng giảm, dẫn đến sản xuất đình đốn. Biện pháp chống lạm phát của NHTƯ chủ yếu bằng tỷ lệ tiền gửi dự trữ bắt buộc cao hay thấp.

Và những kiến nghị

Để nâng cao vị thế NHTƯ, Thống đốc NHNN Việt Nam nên điều hành lãi suất cơ bản bằng “khung lãi suất”, trong đó “sàn lãi suất” ở mức 5%/năm; “trần lãi suất” ở mức 8,5%/năm. Nếu làm được như vậy, các thành phần kinh tế sẽ tiếp cận vốn vay từ các tổ chức tín dụng; góp phần tăng trưởng GDP; các NHTM cạnh tranh lãi suất huy động vốn và cho vay trong phạm vi “khung lãi suất”, trong đó có “lãi suất thỏa thuận”.

LUATMINHKHUE.VN (sưu tầm & biên tập)

5. Cho vay với lãi suất thế nào là không bị tội hình sự ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Vào tháng 2/2016 em gái tôi có cho một người bạn vay số tiền là 20.000.000d. Và hẹn tới tháng 10/2016 sẽ trả với hình thức như sau. Hàng tháng vào 1 ngày cố định sẽ trả số tiền là 3.000.000d. Có nghĩa nếu tới tháng 10/2016 mà hoàn trả thì tổng cả gốc lẫn lãi là 24.000.000d vì hình thức giống như vay trả góp tháng.
Vậy cho hỏi em gái tôi có bị gọi là cho vay nặng lãi không ạ? Tôi đã đọc hết Điều 140 Bộ luật Hình sự nhưng tôi không biết tính lãi suất như thế nào ?
Mong luật sư giải giùm thắc mắc.

Cho vay với lãi suất thế nào là không bị tội hình sự ?

Luật sư tư vấn quy định pháp luật về lãi suất, gọi số: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội có quy định về lãi suất vay như sau: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 :12 = 1,125%/tháng.

=> Lúc này nợ gốc là 20.000.000 đồng mà đến tháng 10 hoàn trả là 24 triệu đồng. Vậy lãi là 4 triệu đồng trong vòng 8 tháng tương ứng với 500.000 đồng/tháng. Vậy mức lãi suất là 2,5%/tháng. Vậy đây là lãi mức lãi suất cho vay quá mức mà pháp luật quy định nhưng chưa vượt quá 10 lần lãi suất quy định nên em bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên nếu có rủi ro xảy ra em bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình Điều 11 quy định:

"3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
...
d) Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay."

Thưa luật sư, Cho tôi hỏi tôi có vay ngân hàng xxx 14 triệu đóng trong vòng 30 tháng , 1 tháng đóng 883.000 , mới đóng được 8 tháng , vậy theo 14tr lãi xuất là bao nhiêu có nặng lãi hay không . tính ra 30 tháng số tiền 26.490.000 vậy có xem là nặng lãi ko?

=> Lúc này tổng số tiền bạn phải trả là 26.490.000 mà nợ gốc là 14 triệu. Vậy lãi là 12.490.000 đồng. Trung bình 1 tháng bạn trả lãi là 416.000 đồng, vậy lãi suất là 2,97%/tháng. Vậy hành vi này chưa đủ cấu thành tội cho vay nặng lãi.

Thưa luật sư, Mẹ chồng của chị mình có vay 300 triệu đồng với lãi suất 5000 đồng /ngày/1 triệu.Phải sang tên bìa đỏ và hạn trong 2 năm phải trả hết nếu không sẽ mất nhà.Hiện tại gia đình rất khó khăn và không có tiền để trả nợ.Mong được công ty tư vấn giúp nên làm thế nào.

Trường hợp này lãi là 5000 đồng/ngày/1 triệu là vượt quá mức lãi suất nhà nước quy định. Lúc này bạn nên là đơn trình báo lên cơ quan công an về hành vi của ngân hàng để giải quyết. Khi đó bạn chỉ phải trả tiền theo lãi suất nhà nước quy định và số tiền vượt quá mà bạn đa trả trong thời gian trước đấy sẽ được trừ vào nợ gốc.

Nếu có thể bạn nên thỏa thuận với ngân hàng để họ gia hạn nợ và giảm mức lãi suất cho bạn.

Thưa luật sư, Tôi hiện đang công tác tại 1 cơ quan nhà nước, song tôi có vay lãi của 1 người 200.000.000 với lãi suất là 4.000.000/tháng. song do tôi không trả được nên tôi bị kiện liệu tôi có bị mất việc không. Tôi đã xin cho tôi trả dần tiền gốc 2.000.000/ tháng nhưng bên vây không chấp thuận và tiếp tục khởi kiện. Xin luật sư cho tôi lời khuyên.

Trường hợp này người đó cho bạn vay với mức lãi là 4.000.000 đồng/tháng là đã vượt quá mức mức lãi suất pháp luật cho phép. Trường hợp người đó khởi kiện nhưng bạn không có yếu tố lừa đảo, bỏ trốn thì bạn chỉ có nghĩa vụ trả tiền cho người đó chứ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vậy việc có bị đuổi việc hay không còn phụ thuộc vào nội quy ở cơ quan bạn công tác.

Thưa luật sư, Chị gái tôi cần tiền phải đi vay 30 triệu. người cho vay nói với chị tôi là cho chị tôi vay nóng với lãi 5 nghìn/ ngày/ 1 triệu, sau 10 ngày chị tôi phải trả lãi với số tiền 1 triệu 500 nghìn đồng, nếu sau 10 ngày chị tôi chưa trả được gốc mà trả lãi thì sẽ chuyển sang lãi tháng là 5% tương đương với 50 nghìn/ tháng/ 1 triệu. Sau khi vay 30 triệu sau 10 ngày chị tôi đem 1 triệu 500 nghìn trả lãi nhưng do chưa trả được gốc có nhờ người cho vay chuyển sang lãi tháng thì nhận được câu trả lời là "chị chưa có nguồn nên không chuyển cho e sang lãi tháng được, em vẫn tính theo lãi ngày thôi". Sau 3 tháng vay chị tôi phải trả tất cả là 13 triệu 500 nghìn tiền lãi trong khi lương giáo viên của chị được 4 triệu 200 nghìn/ tháng. vậy tôi xin hỏi việc vay như vậy có phải là nặng lãi không? có cách nào giúp chị tôi trả nguyên tiền vay 30 triệu không ạ vì lấy lương về vẫn phải bù thêm 300 ngàn để trả tiền lãi

=> Với lãi là 5.000/1 triệu/ngày ứng với lãi suất là 0,5%. Trong khi lãi suất tối đa nhà nước quy định là 1,125% : 30 = 0,0375%. Vậy lãi suất này đã gấp 10 lần lãi suất quy định. Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội (Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội)quy định:

"Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Vậy người này đã phạm tội cho vay nặng lãi, bạn có thể làm đơn tố cáo người đấy để đòi lại quyền lợi cho chị mình.

Thưa luật sư, Con em hôm nay vừa tròn 16 tháng cũng là số tháng mà gia đình em phải chi trả tiền lãi, mỗi tháng là 1 triệu 500 ngàn. Vì gia đình lúc đó không xoay được tiền nên người đó mở lời cho nhà em vay 5 triệu với điều kiện cứ nửa tháng người đó tới thu 750 ngàn. Gần đây, người đó tới nhà thương lượng rằng cho em thời gian 4 tháng để chi trả dần số tiền trên. Nhưng khi em hỏi kĩ thì em vẫn phải chi trả tiền lời là 3 triệu. Tóm lại là em phải chi trả mỗi tháng 2 triệu, trong đó có 3triệu tiền lời. Xin hỏi như vậy là hình thức cho vay lãi cao phải không? Nếu phải thì em phải liên hệ phòng ban nào giúp đỡ gia đình em đây?

=> Theo như bạn trình bày thì khoản nợ gốc là 5 triệu đồng, lãi là 3 triệu trong vòng 4 tháng ứng với lãi suất la 15%/tháng. Vậy hành vi này là hành vi cho vay lãi nặng theo tội hình sự. Lúc này bạn có thể làm đơn tố cáo lên cơ quan công an hoặc làm đơn khởi kiện gửi lên Tòa án để giải quyết.

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Mức lãi suất hợp pháp khi vay nợ là bao nhiêu ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về hành vi nợ tiền và các vấn đề liên quan.

Trả lời:

Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội có quy định về lãi suất vay như sau: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 :12 = 1,125%/tháng.

Thưa luật sư, Gia đình cháu có vay nóng với lãi suất cao, bình thường bố cháu rất cẩn thận trả lãi đều lấy lại giấy, nhưng hôm đó trả lãi bố cháu sai vì bố không lấy lại giấy đã thanh toán lãi vì người cho vay không đem theo nhưng người đó có kí tên trong quyển sổ của bố cháu, về sau người đó đem giấy đó đến và nói bố cháu chưa trả lãi, người cho vay không chấp nhận chữ kí đó và nói do bố cháu giả chữ kí,họ bắt bố cháu phải trả nếu không kiện ra tòa. Cho cháu hỏi là nếu ra tòa thì phần lợi sẽ về bên nào?

=> Bạn đem hợp đồng này đi giám định chữ ký để xác định đó là chữ ký của người đó đã nhận đủ tiền lãi do bố bạn trả tiền thì gia đình bạn sẽ có bằng chứng chứng minh mình đúng. Ngoài ra khi khởi kiện tại Tòa án, nếu bạn xác định được bên đó cho bạn vay với lãi suất quá 1,125%/tháng thì bên kia đã có hành vi vi phạm pháp luật.

Thưa luật sư, Cách đây 4 năm Gia đình tôi cho mượn sổ đỏ để bà cô làm thủ tục vay ngân hàng 1 tỷ đồng, cả gia đình nhà tôi kí vào hợp đồng vay nhưng người nhận tiền là bà cô tôi. Và bà cô trả lãi hàng tháng. Đến nay bà cô không trả lãi và gốc 6 tháng nay . tôi hỏi luật sư ngân hàng sẽ làm gi? và gia đình tôi sẽ phải làm gì để bảo vệ quyền lợi cho mình. Để lấy dc sổ đỏ về. Và lãi xuất ngân hàng không tăng.

=> Vì trường hợp là gia đình bạn cho cô ấy mượn sổ đỏ, nhưng giấy tờ kí vay là gia đình bạn trực tiếp kí nên theo phương diện pháp lý thì gia đình bạn sẽ phải chịu trách nhiệm. Nếu không trả được nợ ngân hàng sẽ khởi kiện lên Tòa án để tiến hành kê biên ngôi nhà và mảnh đất của bạn. Trường hợp này gia đình bạn phải yêu cầu cô ấy trả đủ tiền nợ cho ngân hàng mới có thể lấy được sổ đỏ về.

Thưa luật sư, Năm 2012 tôi có vây tiền người bạn thân, với số tiền 5 triệu đồng, chỉ vây bằng lời nói không có giấy tờ. Vây không tính lãi, không thời hạn . Nhưng từ lúc chúng tôi có xích mich một số chuyện thì người bạn tôi đã đổi ý và đòi lại số tiền 5 triệu đồng vậy tôi có phải trả ko?

=> Bộ luật dân sự quy định:

"Điều 124. Hình thức giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản."

Thì việc giao dịch bằng lời nói vẫn được coi là hợp pháp. Tuy nhiên nếu người đó muốn khởi kiện bạn để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì người đó phải có bằng chứng như là bản ghi âm, ghi hình, chứng từ của những lần trả nợ trước.... thì mới có thể khởi kiện được.

Thưa luật sư, Em có cho một chị trong công ty mượn 20 triệu lãi hàng tháng, có nghĩa là em và người đó có giấy nợ thời hạn 1 tháng.Từ tháng 11 năm 2013 tới nay chi ấy không trả lãi và trả được 7 triệu 300 ngàn.Bây giờ chị ấy cứ hứa và không trả.Vậy tôi khởi kiện thế nào ạ?

=> Bạn làm hồ sơ khởi kiện yêu cầu chị đó thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo hình thức kiện dân sự.

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

Thưa luật sư, Năm 2012 tôi có thế chấp 1 căn nhà với hợp đồng giá trị 1 tỷ đồng (hợp đồng A), 1 căn nhà hợp đồng 50 triệu đồng (hợp đồng B) năm 2013 là hết hạn trả nợ của 2 hợp đồng, nhưng đến năm 2014 gia đình tôi mới trả được 1 tỷ đồng của hợp đồng A, nhung số tiền lài gia đình tôi không có khả năng trả, ngân hàng cũng đã cho rút tài sản của hợp đồng A. Còn hợp đồng B gia đình chưa có khả năng thanh toán và tiền gốc lãi là 84.000.000 đồng. Nay tôi gởi mail này tới quý công ty hỏi nội dung sau: Khoản tiền nợp lãi của hợp đồng A gia đình tôi không có khả năng trả thì bị xử lý thế nào và có ảnh hưởng đến việc rút tài sản của hợp đồng B khi gia đình tôi trả hết nợ của hợp đồng B hay không?

=> Hợp đông A và hợp đồng B là 2 hợp đồng độc lập, không liên quan tới nhau. Tuy nhiên, với từng khoản còn nợ của hợp đồng chưa trả được thì Tòa án sẽ tiến hành kê biên tài sản để trả phần còn thiếu.

Thưa luật sư, Cách đây 6 năm nhà tôi vay ngoài 150 triệu ls 5% tháng. Ba tôi lấy giấy tờ tay mảnh đất có nhà đang thuê mà mẹ tôi đứng tên để thế chấp. Tiền thuê nhà hàng tháng ban đầu là 2,5 triệu sau này là 3,5 triệu trong 5,6 năm đó bên cho vay nhận. Ba tôi ban đầu có trả lãi đúng. Sau này ko trả nữa. Họ chỉ lấy được tiền lãi từ nhà cho thuê. Hiện tại nhà tôi gặp khó khăn muốn lấy lại căn nhà để ở. Và có thương lượng trả nợ gốc. Họ bắt phải trả 250 triệu. Vậy nếu kiện bên cho vay chúng tôi có lợi hay hại?

=> Lãi suất quy định là 1,125%/tháng. Trường hợp nếu khởi kiện thì Tòa án sẽ yêu cầu gia đình bạn trả nợ theo lãi suất là 1,125%/tháng và nợ gốc. Trường hợp gia đình bạn không trả được thì Tòa án sẽ tiến hành kê biên tài sản để thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Còn bên kia sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với hành vi cho vay vượt quá mức lãi suất quy định. Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình quy định:

"3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
...
d) Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê.