Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn dân sự của Công ty Luật Minh Khuê. 

Chơi hụi nhưng không đòi được tiền thì giải quyết thế nào?  

Luật sư tư vấn luật dân sự: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 

Nghị định 144/2006/NĐ-CP về họ, hụi, biêu, phường 

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 

2. Nội dung phân tích:

Khoản 1, điều 479 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hình thức họ, hụi như sau : "1. Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên."

Trong trường hợp của bạn, giữa bạn và chủ hụi phát sinh quan hệ dân sự đó là vay tài sản là tiền có giá trị 80.000.000 đồng (hụi, họ, biêu, phường là một trong các hình thức vay tài sản theo quy định tại BLDS 2005) ; xung quanh nhà bạn thì những người chơi hụi mất 200.000.000 đồng.

Một trong những nghĩa vụ của chủ họ là “giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ” quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định 144/2006/NĐ-CPTrường hợp của bạn, khi đến ngày lĩnh họ, không những họ không giao tiền mà còn bỏ trốn khỏi địa phương.

Do đó, căn cứ vào điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 thì:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng. 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng..."

Dựa vào các quy định trên, nếu chủ họ có dấu hiệu trốn tránh trách nhiệm trả lại số tiền đã mượn và số tiền lĩnh họ của bạn bằng cách bỏ trốn khỏi địa phương thì bạn cùng với những gia đình xung quanh có thể tố cáo người đó đến cơ quan công an cấp huyện về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Căn cứ vào số tiền chiếm đoạt tổng cộng là 200.000.000 đồng, chủ họ có thể bị khởi tố về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 140 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009. 

Điều 84 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định như sau:

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.

Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Bạn có thể tham khảo: Mẫu đơn tố cáo 

Trên cơ sở đơn tố cáo của bạn, cơ quan điều tra sẽ tiến hành khởi tố theo quy định tại điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự 2003 :

"Điều 83. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự.

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1- Tố giác của công dân;

2- Tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội;

3- Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4- Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5- Người phạm tội tự thú."

Như vậy, quyền và lợi ích của bạn và những hộ gia đình kia có thể được đảm bảo.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. 

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900 6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh KHuê