Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: nguyengiang

Câu hỏi được biên tập từ Chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn pháp luật

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến :1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý

-Luật đất đai năm 2013

-Luật cư trú năm 2006

-Bộ luật dân sự năm 2005

Phân tích nội dung

Khoản 1 Điều 25 Luật cư trú năm 2006 quy định: 

"Điều 25. Sổ hộ khẩu cấp cho hộ gia đình

1. Sổ hộ khẩu được cấp cho từng hộ gia đình. Mỗi hộ gia đình cử một người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ làm chủ hộ để thực hiện và hướng dẫn các thành viên trong hộ thực hiện quy định về đăng ký, quản lý cư trú. Trường hợp không có ng­ười từ đủ mười tám tuổi trở lên hoặc có người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì đ­ược cử một ng­ười trong hộ làm chủ hộ.

Những ng­ười ở chung một chỗ ở hợp pháp và có quan hệ gia đình là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột thì có thể được cấp chung một sổ hộ khẩu."

Chủ hộ là người được gia đình cử để thực hiện và hướng dẫn các thành viên trong hộ thực hiện quy định về đăng ký, quản lý cư trú vì vậy, chủ hộ có thể là người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng có thể không phải là người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 167 Luật đất đai năm 2013, người sử dụng đất (trong trường hợp này là người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) có quyền chuyển nhượng đất cho người khác. Như vậy, Bạn cần xác định rõ chủ sở hữu đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bố bạn hay hộ gia đình bạn. trong trường hợp người bố là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người bố hoàn toàn có quyền bán thửa đất đó mà không cần sự đồng ý của những người con. Nếu chủ sở hữu là hộ gia đình thì việc định đoạt tài sản này cần có sự đồng ý của các thành viên trên 15 tuổi trong gia đình đồng ý theo quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ Luật dân sự năm 2005 như sau:

Điều 109. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình  

...

2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý."

Về việc lập di chúc:

Bố bạn có quyền lập di chúc định đoạt phần tài sản thuộc sở hữu của mình. Việc lập di chúc cần tuân thủ quy định của pháp luật về hình thức và nội dung:

Theo quy định tại Điều 64 BLDS năm 2005, người lập di chúc có các quyền sau đây:

"Điều 648. Quyền của người lập di chúc  

Người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phân tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản."

Điều 652. Di chúc hợp pháp  

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. 

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. "

Theo quy định trên, Trong phạm vi tài sản thuộc sở hữu của Bố bạn, nếu di chúc đảm bảo những quy định trên thì có giá trị pháp lý.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.!

Trân trọng ./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ