để trang trải tiền thuê cửa hàng và tu sửa lại cửa hàng cũng với lãi suất như trên. Hợp đồng chỉ có một bản chị ta giữ không cho tôi bản nào và nói rằng khi nào tôi trả hết gốc lãi thì sẽ trả giấy vay nợ gốc cho tôi, lãi suất thoả thuận bằng miệng chứ không ghi trong hợp đồng. Hai tháng đầu chị ta lấy tôi 3 triệu tiền lãi và có một quyển sổ chị ta ghi vào không cho tôi ký cũng không ghi biên nhận cho tôi, những tháng sau chị ta lấy đều mỗi tháng 2.250.000đ (15%/1 tháng) có lần tôi bị tai nạn nên nhờ mẹ tôi ra trả hộ chị ta cầm tiền nhưng không ghi biên lai, mẹ tôi có hỏi thì chị ta nói chỗ chị em quen biết gđ với nhau không cần. Và cứ thế tôi trả đều đặn cho đến hết tháng 6/2015 số tiền lãi tôi đã trả là 21 triệu, đến nay tôi không còn khả năng chi trả (vì từ lâu shop thời trang không bán được phải thanh lý và trả công ty) tôi đi làm thêm cũng chỉ đủ trả lãi cuộc sống khó khăn, ly hôn nuôi con một mình may nhờ ông bà ngoại chăm nom con cái, chị ta biết thế nhưng không giảm tiền lãi cho tôi mà vẫn nhận nhưng không ghi biên nhận cho tôi. Khi bố mẹ tôi biết chuyện đã suy nghĩ cho tôi tiền trả nhưng phải lấy giấy tờ gốc về và ghi rõ từng ngày trả lãi, tôi ra đặt vấn đề thì chị ta không đồng ý cho tôi hai bản gốc và giấy ra hạn mà viết cho tôi một tờ hợp đồng mới gộp hai khoản trên vào là 15 triệu vào ngày14/8/2015 rồi không ghi cho tôi chữ sao lại từ hai hợp đồng ngày 7/8 và14/8. Khi tôi yêu cầu xác nhận cho tôi số tiền lãi đã nhận của tôi mà chính chị ta cũng thừa nhận 21 triệu nhưng chị ta không ký và nói rằng đây là cho vay ngoài không phải ngân hàng nên không ký mà chị ta chỉ đánh dấu vào sổ của chị ta. Bố mẹ tôi mời chị ta đến nhà chơi và nói chuyện tình cảm và yêu cầu chị ta tính lại lãi kể cả gấp đôi lãi suất Ngân hàng cho phép không vượt quá 150% nhưng chị ta không nghe mà còn dở mặt nói rằng nếu tôi không trả đủ 15tr gốc thì sẽ tố cáo tôi ta toà và không thừa nhận số tiền lãi 21tr mà tôi đã trả cho chị ta, chị ta còn chụp ảnh tờ hợp đồng gộp của hai ngày kia và bảo là đã thế tính 30tr tiền gốc. Thật tình tôi cũng không biết làm thế nào nữa? Bố tôi nói sẽ tố chị ta tội cho vay nặng lãi vì thế chị ta không đòi 15tr gốc nữa mà bảo tôi trả 12tr còn số lãi 21tr kia không có căn cứ chị ta không ký xác nhận. Trừ khi tôi trả đủ 15tr gốc và tiền lãi hai tháng 7 và 8 là 4,5tr thì chị ta mới xác nhận số tiền lãi tôi đã trả 21tr trong thời gian qua mà không hề có biên lai xác nhận. Như vậy có phải chị ta lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tiền của tôi không? Tôi phải làm gì xin Luật sư hãy cho tôi lời khuyên và cách giải quyết hợp lý nhất , tôi mong sớm nhận được câu trả lời sớm nhất từ Luật sư! Tôi và gia đình xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: C.T.D

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty luật Minh Khuê

Chủ nợ không chịu ký khi đã nhận tiền lãi phải làm thế nào?

Tư vấn luật dân sự goi: 1900.6162

Trả lời:

 

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào nthoong tin bạn cung cấp chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005;

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009;

Thứ nhất:

Căn cứ Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

Điều 471:Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Điều 476: Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Điều 477: Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thoả thuận khác.

2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.

Theo như thông tin bạn cung cấp, lãi suất thỏa thuận là 5.000/1.000.000/ngày.

Như vậy lãi suất hàng tháng sẽ là: 15%/tháng. Tức là 180%/1 năm. Trong khi đó, lái suất cho vây của ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2014 là ở mức khoảng 9-10%/năm đối với ngắn hạn; 10.5-12%/năm đối với trung và dài hạn (các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường). 

Do đó, người cho bạn vay tiền đã vi phạm Điều 163 về hành vi cho vay nặng lãi, bạn có thể tố cáo về tội này.

Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật hình sự năm 1999:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2.  Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3.  Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Thứ hai:

Lần vay 1: 5.000.000 đồng ngày 7/8/2014

Lần vay 2: 10.000.000 đồng ngày 14/8/2014

Gộp 2 lần: 15.000.000 đồng ngày 14/8/2015. Tuy nhiên, khi gộp hai khoản tiền lại không ghi nguồn gốc, đây có thể được xem như một bản hợp đồng cho vay tài sản mới, tuy nhiên nó lại không tồn tại trên thực tế.

Điều 139 Bộ luật hình sự quy định:

"Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Điều 140 Bộ luật hình sự quy định:

"Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này".

Trong trường hợp này, để xác định người cho bạn vay tiền vi phạm điều nào cần dựa vào:

Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tà sản: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.Tức là với tội tại Điều 139 thì thủ đoạn gian dối được dùng trước khi có hành vi chiếm đoạt.

Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: sau khi nhận được tài sản thì người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.

Dù người cho bạn vay lợi dụng lòng tin của bạn để viết hợp đồng vay 15 triệu đồng nhưng không cấu thành tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp người cho bạn vay tiền dùng hợp đồng gộp tiền ( 14/8/2015) này để lấy từ bạn bạn thêm 15 triệu thì sẽ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Do đó, nếu người đó cố tình sử dụng bản hợp đồng (14/8/2015) để đòi tiền bạn, bạn có thể tố cáo người đó về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tội này sẽ hoàn thành khi người đó lấy được tài sản của bạn. 

Về 21 triệu tiền lãi, do không có giấy tờ xác nhận nên rất khó chứng minh bạn đã trả khoản lãi đó. Do đó rất có thể bạn sẽ phải trả lãi theo quy định của pháp luật với 15 triệu đã vay trong 2 đợt ( tối đa 150% lãi suất ngân hàng) khi có tranh chấp.

Trên đây là ý kiến để cá nhân, tổ chức tham khảo, mọi thắc mắc liên hệ 1900.6162

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.