1. Vì xe ô tô chưa thực hiện thủ tục sang tên nên người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ở đây là chủ sở hữu xe trên giấy tờ hay người bạn của tôi?

2. Với tư cách doanh nghiệp có xe ô tô gây ra tai nạn, trách nhiệm liên đới bồi thường của tôi trong trường hợp này là như thế nào?

3. Chi phí mai táng bồi thường cho gia đình người bị thiệt hại được tính như thế nào?

4. Nạn nhân bị tai nạn là một người phụ nữ, có 2 con nhỏ mới 3 tuổi và 10 tuổi, vậy tiền hỗ trợ cấp dưỡng cho những đối tượng này là bao nhiêu? hệ số hỗ trợ được tính như thế nào?

5. Tiền bồi thường thiệt hại về mặt tinh thần được tính như thế nào?
(Câu hỏi được biên tập dựa trên câu hỏi của khách hàng qua tổng đài tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê)

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162 .

 

Trả lời:
Các cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự 2005;

- Thông tư số 06/2009/TT-BCA-C11 ngày 11/3/2009 quy định việc cấp, thu hồi đăng ký, biển số các loại phương tiện giao thông cơ giới đường bộ;

- Nghị quyết 03/HĐTP ngày 8 tháng 7 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số qui định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

(1) Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự, phương tiện giao thông vận tải cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ; Khoản 3 điều 623 quy định: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Xe ô tô là tài sản phải đăng kí quyền sở hữu, theo quy định tại khoản 2 Điều 439 Bộ luật Dân sự: “Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó”. Với quy định này, khi người mua chưa hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu thì về nguyên tắc, chiếc ô tô đó vẫn thuộc quyền sở hữu của người bán.

Theo khoản 3.1.5 quy định tại Thông tư số 06/2009/TT-BCA-C11 ngày 11/3/2009 quy định việc cấp, thu hồi đăng ký, biển số các loại phương tiện giao thông cơ giới đường bộ: Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có xác nhận của đơn vị công tác hoặc có chứng thực chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ mua bán, cho, tặng, thừa kế xe, người mua hoặc nhận xe phải đến cơ quan đăng ký xe đang quản lý xe đó làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe.

Như vậy, việc mua bán xe ôtô giữa cá nhân với cá nhân phải được lập thành văn bản và phải có xác nhận của đơn vị công tác hoặc có chứng thực chữ ký của UBND xã, phường nơi cư trú của người bán. Văn bản mua bán giữa hai bên cũng cần ghi rõ trách nhiệm của người mua là phải chịu mọi rủi ro từ thời điểm nhận xe và khi đó, người bán sẽ không phải chịu trách nhiệm về những rủi ro phát sinh sau khi bàn giao xe cho người mua.

Về thời điểm chịu rủi ro: Khoản 2 Điều 440 Bộ luật Dân sự có quy định: “đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, kể cả khi bên mua chưa nhận tài sản, nếu không có thoả thuận khác”.

Như vậy, trong người mua chưa hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu thì người bán (chủ sở hữu của chiếc xe) vẫn phải chịu mọi rủi ro do chiếc xe đó gây ra, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận người mua phải chịu rủi ro từ thời điểm nhận xe.

(2) Nếu bạn anh thực hiện việc góp vốn vào doanh nghiệp (bằng tài sản là chiếc xe ô tô) thì phải theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, Điều 29 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ;”. Khi thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản thì chiếc ô tô thuộc sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, theo như anh trình bày thì bạn anh không thể làm thủ tục chuyển quyền sở hữu ô tô sang doanh nghiệp, vì vậy doanh nghiệp không phải là chủ thể sở hữu chiếc ô tô này. Trong trường hợp này doanh nghiệp sẽ không phải liên đới bồi thường thiệt hại với tư cách là chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ.

Theo quy định tại Điều 622 Bộ luật dân sự 2005 về việc bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”. Nếu người gây ra thiệt hại là người làm công của doanh nghiệp và gây ra thiệt hại trong khi thực hiện công việc được giao thì doanh nghiệp phải thực hiện việc bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra.

(3) Theo Điểm 2 Nghị quyết 03/HĐTP ngày 8 tháng 7 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số qui định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...

(4) Theo tinh thần Điểm 2 Nghị quyết 03/HĐTP quy định về khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.
Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.
Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

(5) Theo tinh thần của Điểm 2 Nghị quyết 03/HĐTP quy định về khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm.
Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần.
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm... và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại…
Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Liên hệ sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ tư vấn luật: 1900 6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email:  Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê