Nhưng đợi một lúc lâu hơn nửa tiếng mà không thấy chị ấy ra tôi bắt đầu lo sợ và đợi thêm nột tiếng nửa tôi mới mở giỏ sách của chị ấy ra thì thấy có để một số tiền và kèm theo tờ giấy nhắn tin đại loại là hãy chăm sóc nuôi nấng cháu bé dùm chị ấy vì chi ấy không đủ điều kiện để lo cho bé. Tôi đã trình báo người quản lý nhà ga và cơ quan chính quyền địa phương. Trong trường hợp này tôi muốn hỏi: - theo quy định của luật thì tôi chăm sóc trẻ trong vòng bao nhiêu ngày?

- Năm nay tôi 22 tuổi và chưa lập gia đình, có công việc ổn định. Nếu tôi muốn nhận nuôi thì có được không? Hoặc ba mẹ tôi muốn nhận nuôi thì có được không? Nhà tôi thì có 3 chị em và tôi là người lớn nhất.

- Nếu trường hợp bên cơ quan nhà nước có thông báo về đứa bé trên báo đài nhưng không có cha mẹ bé nhận lại và có người muốn nhận nuôi và họ đủ điều kiện khá giả để nuôi bé nhưng trong khi tôi cũng muốn nhận bé làm con nuôi thì có được không? (theo tôi nghĩ do tôi còn trẻ và chưa lập gia đình nên sợ pháp luật có quy định gì về vấn đề này.) Trong trường hợp này tôi được mẹ đứa bé trao đứa bé cho tôi thì tôi có được ưu tiên nhận nuôi bé không? Nếu như tôi không được ưu tiên thì ba mẹ tôi có được là người ưu tiên tiếp theo để nhận bé làm con nuôi hay không?

- Trường hợp là cả tôi hoặc ba mẹ tôi đều đủ khả năng về kinh tế gia đình đều chăm sóc yêu thương bé thì có bị tước quyền được nhận bé hay không? Và tôi muốn nhấn mạnh lại là chính tôi là người được trao đứa bé.

- Và tôi xin hỏi luật có quy định gì thêm về vấn đề tương tự của tôi hay không? Tôi rất mong được luật sư giải đáp thắc mắc.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: T.V.D

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn hôn nhân gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật Nuôi con nuôi 2010

Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi

Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định về đăng ký và quản lý hộ tịch

Nội dung phân tích:

Điều 16 khoản 1, 2, 3 Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định về khai sinh cho trẻ sơ sinh bị bỏ rơi như sau:

"Điều 16. Khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi

1. Người phát hiện trẻ sơ sinh bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ bị bỏ rơi để lập biên bản và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó.

Biên bản phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; giới tính; đặc điểm nhận dạng; tài sản và các đồ vật khác của trẻ (nếu có); họ, tên, địa chỉ của người phát hiện. Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lập biên bản, một bảongiao cho người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lập biên bản có trách nhiệm thông báo trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương để tìm cha, mẹ đẻ của trẻ. Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình có trách nhiệm thông báo miễn phí 3 lần trong 3 ngày liên tiếp các thông tin về trẻ sơ sinh bị bỏ rơi. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo cuối cùng, nếu không tìm thấy cha, mẹ đẻ, thì người hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh.

3. Khi đăng ký khai sinh cho trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, họ, tên của trẻ được ghi theo đề nghị của người đi khai sinh; nếu không có cơ sở để xác định ngày sinh và nơi sinh, thì ngày phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày sinh; nơi sinh là địa phương nơi lập biên bản; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được để trống. Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ "trẻ bị bỏ rơi". Trong trường hợp có người nhận trẻ làm con nuôi, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch căn cứ vào quyết định công nhận việc nuôi con nuôi để ghi tên cha, mẹ nuôi vào phần ghi về cha, mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của con nuôi; trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ "cha, mẹ nuôi"; nội dung ghi chú này phải được giữ bí mật, chỉ những người có thẩm quyền mới được tìm hiểu."

Điều 25 Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định về thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi như sau:

"Điều 25. Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi

1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

2. Trong trường hợp trẻ bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi đăng ký việc nuôi con nuôi; nếu trẻ em đó đã được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng đăng ký việc nuôi con nuôi."

Như vậy, căn cứ vào Điều 16 khoản 1, 2, 3 và Điều 25  thì sau khi phát hiện trẻ bị bỏ rơi, bạn cần phải thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ bị bỏ rơi để lập biên bản và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó; bạn có thể là người tạm thời nuôi dưỡng đứa trẻ. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lập biên bản có trách nhiệm thông báo trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương để tìm cha, mẹ đẻ của trẻ. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo cuối cùng, nếu không tìm thấy cha, mẹ đẻ, thì người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh.

Trong trường hợp bạn muốn nhận nuôi đứa trẻ thì bạn đăng ký việc nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi (phù hợp với quy định tại Điều 15 Luật Nuôi con nuôi 2010 và Điều 2 khoản 1 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP).

"Điều 2. Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi (Nghị định số 19/2011/NĐ-CP)

Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 9 của Luật Nuôi con nuôi và quy định cụ thể sau đây:

1. Đối với việc nuôi con nuôi trong nước, thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã), nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

Trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi hoặc có sự thỏa thuận giữa người nhận con nuôi với cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã thường trú của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi."

Nếu xét thấy bạn có đủ điều kiện có thể nhận nuôi đứa trẻ (người nhận nuôi con có thể độc thân hoặc đã lập gia đình) thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho bạn. Sau đó, cán bộ Tư pháp hộ tịch căn cứ vào quyết định công nhận việc nuôi con nuôi để ghi tên cha, mẹ nuôi vào phần ghi về cha, mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của con nuôi; trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ "cha, mẹ nuôi"; nội dung ghi chú này phải được giữ bí mật, chỉ những người có thẩm quyền mới được tìm hiểu (phù hợp quy định tại Điều 22 Luật Nuôi con nuôi 2010 và Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP)

Điều kiện của người nhận con nuôi được quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 như sau:

"Điều 14. Điều kiện đối với người nhận con nuôi

1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

d) Có tư cách đạo đức tốt.

2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này."

Trong trường hợp có nhiều người muốn nhận nuôi đứa trẻ thì thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế được quy định tại Điều 5 Luật Nuôi con nuôi 2010 như sau:

"Điều 5. Thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế

1. Thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế được thực hiện theo quy định sau đây:

a) Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;

b) Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước;

c) Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;

d) Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;

đ) Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.

2. Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu tiên xin nhận một người làm con nuôi thì xem xét, giải quyết cho người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi tốt nhất."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.