Người gửi: Minh

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

Chuyển nợ cho xã hội đen có được pháp luật bảo vệ không ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900 6162            

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009

Nghị định số 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ

Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Nội dung phân tích: 

1/ Về việc ủy quyền cho người khác đòi nợ.

Ủy quyền đòi nợ về bản chất là một giao dịch dân sự; vấn đề này được quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự 2005. Theo đó, bên ủy quyền được thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền mà không được thực hiện quá phạm vi được bên ủy quyền giao.

Theo Điều 4 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ quy định:

" Điều 4. Nguyên tắc hoạt động dịch vụ đòi nợ

1. Chỉ những doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ đòi nợ mới được phép hoạt động dịch vụ đòi nợ.

2. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ không được kinh doanh các ngành, nghề và dịch vụ khác ngoài dịch vụ đòi nợ.

3. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ chỉ được thực hiện các biện pháp xử lý nợ phù hợp với quy định của pháp luật.

4. Hoạt động dịch vụ đòi nợ thực hiện theo hợp đồng ủy quyền được ký kết giữa chủ nợ hoặc khách nợ với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ trong phạm vi quyền được pháp luật công nhận."

Như vậy, bạn của bạn ủy quyền việc đòi nợ cho là hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên, nếu bên được ủy quyền chỉ được thực hiện công việc được giao, tức là công việc đòi nợ, bên cạnh đó Điều 4 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP Về kinh doanh dịch vụ đòi nợ cũng quy định: "Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ chỉ được thực hiện các biện pháp xử lý nợ phù hợp với quy định của pháp luật", vì vậy, nếu bên được ủy quyền đòi nợ có hành vi cưỡng đoạt tài sản hoặc các thủ đoạn khác nhằm ép buộc bạn trả nợ tức là đã có hành vi vi phạm pháp luật, lúc này bạn sẽ được pháp luật bảo vệ quyền lợi của mình.

2/ Về việc cho vay lãi suất 5%/ngày

Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về lãi suất như sau:

"1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất, áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.

Như vậy, việc thỏa thuận mức lãi suất 5%/ngày trước hết là vi phạm pháp luật dân sự về việc áp dụng lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự nói trên. Khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm. Như vậy, chỉ có thể áp dụng mức lãi suất tối đa đối với khoản tiền bạn vay là 13,5%/năm. Hiện tại, nếu bạn và người này không thống nhất với nhau được về mức lãi suất, bạn có thể khởi kiện ra Tòa dân sự.

Bên cạnh đó, Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:


"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến 10 lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến 5 lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm".

3/ Liệu có được pháp luật bảo vệ hay không?

Như đã phân tích ở trên, việc cho vay nặng lãi và việc dùng các hành vi cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản để thu hồi nợ là trái với quy định, lúc này bạn hoàn toàn được pháp luật bảo vệ dựa trên các quy định của pháp luật như sau:

Theo quy định tại điều 135 Bộ Luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì tội Cưỡng đoạt tài sản được quy định như sau:

1.  Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm;

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm;

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Như vậy, đặc trưng cơ bản của tội cưỡng đoạt tài sản là người phạm tội đã có hành vi uy hiếp tinh thần của người có trách nhiệm về tài sản bằng những thủ đoạn đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác làm cho người có trách nhiệm về tài sản lo sợ mà phải giao tài sản cho người phạm tội. Đe doạ sẽ dùng vũ lực là việc sử dụng lời nói hoặc hành động làm cho người bị đe doạ sợ nếu không giao tài sản cho người phạm tội thì sẽ bị đánh đập tra khảo, bị đau đớn về thể xác… Thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần là những thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng ngoài việc đe doạ sẽ dùng vũ lực và thủ đoạn này đã uy hiếp tinh thần của người có tài sản hoặc của người có trách nhiệm về tài sản như: Doạ sẽ tố cáo với chồng về việc vợ ngoại tình, doạ sẽ tố cáo việc phạm tội hoặc việc làm sai trái của người có tài sản hoặc người có tránh nhiệm về tài sản.v.v...

Trong trường hợp này, bạn có thể liên hệ với cơ quan công an gần nhất để được bảo vệ tính mạng và tài sản của mình cũng như gia đình.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về  đầu tư và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900 6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ