Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Thúy Hạnh

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê.

Thi hành án dân sự ?

Luật sư tư vấn luật dân sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

1.Cơ sở pháp lý

Luật thi hành án dân sự 2008 ( sửa đổi, bổ sung năm 2014 )

2.Nội dung phân tích

Việc cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung được quy định tại khoản 31 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2008 như sau:

 

31. Sửa đổi, bổ sung Điều 74 như sau:

Điều 74. Xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án

1. Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.

Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.

Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án.

2. Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:

a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án;

b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

3. Chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung.

Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 của Luật này.”

 

" Điều 95. Kê biên nhà ở

1. Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.

2. Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà.

3. Khi kê biên nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.

Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Việc kê biên nhà ở bị khoá được thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này"

Như vậy, Nhà nước chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án, cho nên ngôi nhà của gia đình bạn chỉ bị kê biên nếu đó là tài sản chung của bố bạn và mẹ bạn (tài sản chung của vợ chồng) hoặc đó là tài sản riêng của mẹ bạn. Trong trường hợp đó là tài sản chung của vợ chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho người chồng biết. Trường hợp bố bạn không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định. Như vậy, ngôi nhà mà gia đình bạn đang ở sẽ không bị kê biên toàn bộ mà chỉ bị kê biên phần sở hữu của mẹ bạn đối với ngôi nhà đấy, bố bạn sẽ được thanh toán giá trị phần tài sản thuộc sở hữu của mình đối với ngôi nhà.

Tuy nhiên, căn cứ tại khoản 1 Điều 95 Luật thi hành án dân sự Tòa án chỉ kê biên nhà ở là nơi duy nhất của mẹ bạn và gia đình bạn để cưỡng chế thi hành án trong trường hợp mẹ bạn không còn tài sản nào khác, tài sản hoặc phần tài sản mang tên mẹ bạn đã bị thanh lý và tịch thu hết để chi trả cho người bị hại; hoặc có nhưng không đủ để thi hành án.  Nếu trong trường hợp mẹ bạn vẫn còn tài sản đủ để thi hành án nhưng vẫn đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án thì Chấp hành viên sẽ tiến hành kê biên nhà ở của gia đình bạn. Việc kê biên nhà ở để thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2, 3, 4 của Điều này và Điều 74 Luật thi hành án dân sự.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ