Thời gian giao hàng 2/3/2009, đến thời han giao hàng do chưa có hàng giao cho bên A nên công ty B đã đề xuất được kéo dài thời gian giao hàng thêm 15 ngày. Đổi lại công ty B sẽ giảm giá xuống 19tr/tấn. Ngày 17/3/2009 công ty B giao hàng đúng thỏa thuận như hợp đồng, sau đó công ty A đã chuyển trả cho công ty B 380 triệu qua tài khoản. Ngày 1/4/2009 lấy lý do công ty A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, công ty B khởi kiện, yêu cầu tòa án buộc công ty A bồi thường thiệt hại. Xin hỏi việc công ty B làm như vậy có đúng không? 

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.A.N

Câu hỏi được biên tập từ Chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

Có hay không sự vi phạm nghĩa vụ thanh toán khi các bên đã có thỏa thuận mới ?

Luật sư tư vấn dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cơ sở pháp lý:

 

Luật Thương mại số 36/2005/QH11 của Quốc hội.

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội​.

Nội dung phân tích:

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Khi thực hiện hợp đồng mua bán, các bên phải tuân thủ nguyên tắc chung tại Điều 412 Bộ luật dân sự:

+ Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác;

+ Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau;

+ Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Xét thấy, Khi đến thời hạn giao hàng, bên Công ty B chưa có hàng giao nên cơ bản vi phạm thời hạn giao hàng theo thỏa thuận của hai bên trước đó. Nhưng Công ty B đã cơ bản đề xuất được kéo dài thời hạn giao hàng thêm 15 ngày, đổi lại Công ty B giảm giá bán xuống 19tr/tấn. Như vậy, tại thời điểm bên B đề xuất kéo dài thời hạn thì hai bên cũng đã thống nhất giảm giá lại hàng hóa khi chậm giao hàng và bên công ty A cũng đã trả giá như bên B thỏa thuận , việc xác định được quy định tại Điều 52 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 của Quốc hội về Xác định giá :"Trường hợp không có thoả thuận về giá hàng hoá, không có thoả thuận về phương pháp xác định giá và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá thì giá của hàng hoá được xác định theo giá của loại hàng hoá đó trong các điều kiện tương tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hoá, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá." Hơn nữa, tại điều 24 Luật thương mại 2005 quy định về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa như sau:

"1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó."

Như vậy, khi hai bên đã giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa bằng văn bản mà khi có thỏa thuận mới về thời gian giao hàng, giá bán hàng hóa thì phải bổ sung các thay đổi đó vào hợp đồng. Việc bổ sung thay đổi hợp đồng sẽ đảm bảo quyền lợi cho các bên khi xảy ra tranh chấp về hợp đồng mua bán.

Xét theo các điều kiện trên thì bạn chưa cho chúng tôi biết, khi công ty B thỏa thuận về giảm giá bán thì hai bên có thỏa thuận bằng văn bản xác nhận giảm giá hay chưa vì đó là yếu tố cần thiết để biết rằng  Bên B khởi kiện yêu cầu Bên A phải bồi thường do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là đúng hay sai.

Nghĩa vụ thanh toán tiền  là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Điều khoản thanh toán trong hợp đồng được các bên thỏa thuận thông thường bao gồm những nội dung cụ thể về đồng tiền thanh toán, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm thanh toán, trình tự và thủ tục thanh toán. Như Vậy, Nếu 2 bên đã thỏa thuận về giảm giá bán bằng văn bản thì bên Công ty B không đủ điều kiện để kiện Công ty A bồi thường vì Công ty A cũng đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và thời hạn thanh toán đúng thỏa thuận số tiền ứng ứng với hàng hóa giao. Nếu  2 bên chỉ thỏa thuận độc lập không có văn bản cụ thể thì đây cũng là rủi ro đối với Bên công ty A vì không có văn bản chứng minh việc giảm giá bán là có hiệu lực. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.