Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Luật Doanh nghiệp năm 2014

Nghị định 167/2013/NĐ - CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng, chống bạo lực gia đình

Bộ luật Dân sự năm 2015

2. Luật sư tư vấn:

Chào quý luật sư. Hiện tại gia đình tôi có hợp đồng với một công ty xây dựng xây cho một ngôi nhà. Trong hợp đồng là thời gian hoàn thành là 90 ngày. Trong thời gian thi công, nhà thầu làm ảnh hưởng nhà kế bên. Nhà kế bên đòi bồi thường thiệt hại, thì nhà thầu gia hạn hợp đồng thêm 60 ngày nữa để giải quyết thỏa thuận với nhà kế bên. Nhưng hai bên thỏa thuận không thành công. Nhà kế bên gửi đơn ra tòa, như vậy thời gian hoàn thành ngôi nhà không đúng theo hợp đồng. Như vậy thì nhà thầu phải bồi thường hợp đồng cho gia đình em như thế nào do không đúng thời gian hoàn thành công trình nhà em như đã kí (trong hợp đồng không có ghi mức bồi thường ). Mong quý luật sư giải đáp cho gia đình em sớm nhất! Chân thành cảm ơn.

Điều 419 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng:

1. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.

2. Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.

3. Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc."

Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác."

Trường hợp của bạn, gia đình bạn ký hợp đồng với một công ty xây dựng xây cho một ngôi nhà. Trong hợp đồng là thời gian hoàn thành là 90 ngày. Trong thời gian thi công, nhà thầu làm ảnh hưởng nhà kế bên. Nhà kế bên đòi bồi thường thiệt hại, thì nhà thầu gia hạn hợp đồng thêm 60 ngày nữa để giải quyết thỏa thuận với nhà kế bên. Nhưng hai bên thỏa thuận không thành công. Nhà kế bên gửi đơn ra tòa, như vậy thời gian hoàn thành ngôi nhà không đúng theo hợp đồng. Như vậy, việc không đảm bảo đúng thời gian hoàn thành là lỗi của bên công ty. Do đó, bạn có quyền yêu cầu bên công ty bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Mức bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào thiệt hại xảy ra và do gia đình bạn và bên công ty thỏa thuận. Nếu gia đình bạn và bên công ty không thỏa thuận được việc bồi thường thiệt hại thì gia đình bạn có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân nơi công ty đặt trụ sở.

*Kính giửi Công ty luật Minh Khuê,* Tôi có thuê 1 nhà xưởng 1000m2 chưa hết hạn, bên trong nhà xưởng có 1 căn phòng nhỏ 100m2 thuê riêng theo 1 hợp đồng khác đến hết hạn tháng 6/2016. Ngay khi căn phòng nhỏ hết hạn hợp đồng, 2 bên chưa thống nhất được giá để ký gia hạn, bên cho thuê tự ý khóa cửa xưởng to 1000m2 này không cho lấy hàng ra vào. Vậy bên cho thuê làm như vậy có đúng không, nếu không thì tôi cần khiếu nại đến cơ quan nào để giải quyết? Trong trường hợp có thiệt hai do việc bên cho thuê gây ra thì bên cho thuê có phải bồi thường thiệt hại hay không? Trường hợp 2 bên không thỏa thuận được giá thuê để tiếp tục thuê căn phòng 100m2 kia thì pháp luật có quy định tôi phải trả tiền những ngày quá hạn hợp đồng là bao nhiêu không? Xin cảm ơn!

Theo bạn cung cấp thông tin, bạn  thuê 1 nhà xưởng 1000m2 chưa hết hạn, bên trong nhà xưởng có 1 căn phòng nhỏ 100m2 thuê riêng theo 1 hợp đồng khác đến hết hạn tháng 6/2016. Như vậy, hợp đồng thuê nhà xưởng 1000m2 và hợp đồng thuê riêng căn phòng nhỏ 100m2 trong nhà xưởng là hai hợp đồng khác nhau nên hiệu lực của hợp đồng này không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng kia. Do đó, khi hợp đồng thuê căn phòng 100m2 hết thời hạn và hai bên chưa gia hạn hợp đồng thì bạn không có quyền sử dụng căn phòng đó. Tuy nhiên, việc này không ảnh hưởng đến việc bạn sử dụng nhà xưởng 1000m2 vì hợp đồng này vẫn có hiệu lực nhưng bạn không được quyền sử dụng căn phòng nhỏ 100m2 nữa. Việc bên thuê khóa cửa nhà xưởng là hành vi vi phạm hợp đồng thuê nhà xưởng 1000m2. Bạn có quyền yêu cầu bên cho thuê phải mở cửa nhà xưởng cho bạn sử dụng. Nếu bên thuê không đồng ý thì bạn có quyền nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bên cho thuê cư trú. 

Trong trường hợp bên thuê không mở cửa nhà xưởng mà gây thiệt hại thì bạn có quyền yêu cầu bên cho thuê phải bồi thường thiệt hại.

Trường hợp bạn và bên cho thuê không thỏa thuận được giá thuê mà hợp đồng thuê căn phòng 100m2 đã hết hạn thì bạn không được quyền sử dụng căn phòng đó. Nếu bạn vẫn cố ý sử dụng mà không được sự đồng ý của bên cho thuê thì việc thanh toán tiền do bạn và bên cho thuê thỏa thuận. Nếu hai bên không thỏa thuận được, thì cơ quan nhà nước có quyền yêu cầu bạn phải dừng việc sử dụng trái phép căn phòng, trả tiền cho những ngày sử dụng trái phép và bồi thường thiệt hại (nếu có thiệt hại phát sinh). Mức tiền bạn phải trả cho bên cho thuê sẽ căn cứ vào giá thuê trước kia, nguồn lợi bạn thu được,và thiệt hại xảy ra. Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước có quyền xử phạt hành chính đối với bạn về hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ - CP: Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Trộm cắp tài sản;

b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác;

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;

d) Sử dụng trái phép tài sản của người khác."

Thưa luật sư! Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ bann hành quyết định 1880 ngày 29/09/2016 về định mức bồi thường thiệt hại cho 4 tỉnh miền Trung bị sự cố môi trường biển do Formosa gây ra. Tôi hiện tại đang sinh sống ở xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tôi xin luật sư giúp tôi giải đáp câu hỏi sau: trong định mức bồi thường thiệt hại cho chủ tàu và người lao động trên tàu công suất dưới 90 CV, thì chủ tàu/thuyền ngoài được nhận định mức đền bù cho chủ tàu/thuyền, nếu chủ tàu trực tiếp vừa là người lao động trên tàu/thuyền thì chủ tàu/thuyền đó có được hưởng thêm đền bù trong định mức người lao động trên tàu/thuyền không? Bởi vì một số chủ tàu/thuyền chỉ đưa tàu/thuyền cho những người lao động đi làm chứ chủ tàu/thuyền đó không trực tiếp lao động trên tàu/thuyền. Rất mong Luật sư giải đáp. Tôi xin chân thành cảm ơn. Chào Luật sư.

Khoản 1 Điều 1 Quyết định 1880/2016/QĐ - TTg quy định: Đối tượng thiệt hại được xác định bồi thường do sự cố môi trường biển tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, bao gồm:

 "Khai thác hải sản:

a) Chủ tàu và người lao động trên tàu/thuyền không lắp máy hoặc có lắp máy công suất dưới 90 CV trực tiếp khai thác thủy sản trên biển, cửa sông, cửa biển, đầm phá, có đăng ký hộ khẩu thường trú và thực tế hoạt động khai thác thủy sản tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế phải ngừng hoạt động do sự cố môi trường biển;

b) Chủ tàu và người lao động trên tàu có công suất máy chính từ 90CV trở lên có đăng ký hộ khẩu tại địa phương, tàu có đăng ký tại 04 tỉnh và thực tế đang hoạt động khai thác hải sản tại các vùng biển từ ngày 06 tháng 4 năm 2016 đến 30 tháng 9 năm 2016 bị thiệt hại do sự cố môi trường biển;

c) Người lao động sống ven biển làm nghề khai thác thủy sản có tính chất đơn giản và thu nhập chính dựa vào nguồn lợi từ biển, đầm phá, cửa sông như: câu, lặn, te/xiệp, nghề cào, nơm, chụp, lưới rùng, mò, nò, sáo, bẫy, đăng, đáy và các phương thức khai thác khác, bị thiệt hại do sự cố môi trường biển."

Điều 2 Quyết định 1880/2016/QĐ - TTg quy định:

"1. Định mức bồi thường thiệt hại được xây dựng trên nguyên tắc xác định thiệt hại của 07 nhóm đối tượng thiệt hại được xác định bồi thường do sự cố môi trường biển tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế nêu tại Điều 1 Quyết định này. Định mức cụ thể cho từng nhóm đối tượng theo Phụ lục đính kèm.

Riêng đối với 03 đối tượng: Khai thác thủy sản trên tàu có công suất máy chính từ 90 CV trở lên; nuôi trồng thủy sản (thủy sản chết) và sản xuất muối; thu nhập bị mất của người lao động làm thuê được tính chung trong định mức bồi thường thiệt hại của chủ tàu hoặc chủ cơ sở nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối. Căn cứ định mức bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 1 Điều này, Ủy ban nhân dân tỉnh hướng dẫn các chủ tàu hoặc chủ cơ sở nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối thống kê danh sách những lao động làm thuê trên tàu, trong cơ sở nuôi trồng thủy sản, cơ sở sản xuất muối và mức bồi thường đối với mỗi lao động cho phù hợp, đảm bảo đồng thuận, có xác nhận của từng người lao động. Trên cơ sở đó thực hiện bồi thường thiệt hại cho chủ tàu, chủ cơ sở nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối để cấp cho từng người lao động theo danh sách đã thống kê trên.

2. Căn cứ đối tượng thiệt hại được xác định bồi thường do sự cố môi trường biển tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế nêu tại Điều 1 và định mức bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 1 Điều này; Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện kiểm tra, rà soát, xác định tổng mức bồi thường thiệt hại cho các đối tượng thuộc địa phương quản lý gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài chính tổng hợp trước ngày 05 tháng 10 năm 2016. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì thẩm tra, xác định kinh phí bồi thường của từng địa phương gửi Bộ Tài chính tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trước ngày 10 tháng 10 năm 2016.

3. Thời gian tính bồi thường thiệt hại tối đa là 6 tháng, từ tháng 4 năm 2016 đến hết tháng 9 năm 2016."

Theo quy định trên, thu nhập bị mất của người lao động làm thuê được tính chung trong định mức bồi thường thiệt hại của chủ tàu, và chủ tàu thống kê danh sách những người lao động làm thuê trên tàu. Như vậy, nếu chủ tàu vừa là chủ tàu vừa là người lao động trên tàu (với trường hợp có nhiều người lao động khác cùng làm cho chủ tàu đó) thì chủ tàu đó được hưởng đồng thời mức bồi thường cho chủ tàu và mức bồi thường cho người lao động trên tàu. Còn nếu chủ tàu tự mình dùng tàu của mình trực tiếp khai thác một mình thì chỉ được hưởng định mức bồi thường của chủ tàu. 

Tên khách hàng: B Xin chào luật sư Tôi có một vấn đề muốn hỏi, tôi có mua điện thoại của 1 weds mua bán trên mạng. Nhưng khi mua sản phẩm thì bên đó gởi cho tôi hàng kém chất lượng. Và bên đó không cho trả lại sản phẩm. Nên tôi muốn hỏi luật sư rằng bên webs đó có làm đúng không? Làm cách nào tôi mới có thể đòi lại quyền lợi của mình? Vì trên trang webs của shop đó có nói đổi trả hàng trong vòng 7 ngày. Mong được luật sư trả lời

Điều 445 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

"1. Bên bán phải bảo đảm giá trị sử dụng hoặc các đặc tính của vật mua bán; nếu sau khi mua mà bên mua phát hiện khuyết tật làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị sử dụng của vật đã mua thì phải báo ngay cho bên bán khi phát hiện ra khuyết tật và có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác, giảm giá và bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Bên bán phải bảo đảm vật bán phù hợp với sự mô tả trên bao bì, nhãn hiệu hàng hóa hoặc phù hợp với mẫu mà bên mua đã lựa chọn.

3. Bên bán không chịu trách nhiệm về khuyết tật của vật trong trường hợp sau đây:

a) Khuyết tật mà bên mua đã biết hoặc phải biết khi mua;

b) Vật bán đấu giá, vật bán ở cửa hàng đồ cũ;

c) Bên mua có lỗi gây ra khuyết tật của vật."

Theo bạn cung cấp thông tin, bạn mua điện thoại của 1 weds mua bán trên mạng. Nhưng khi mua sản phẩm thì bên đó gửi cho bạn hàng kém chất lượng và không cho trả lại sản phẩm. Như vậy nếu chất lượng của điện thoại là khuyết tật mà bạn phải biết khi mua thì bạn không có quyền đổi hàng, nếu không, bên bán đã giao hàng không đúng chất lượng theo thỏa thuận. Hơn nữa, trên trang webs của shop đó có nói đổi trả hàng trong vòng 7 ngày. Do đó, bạn có quyền yêu cầu bên bán phải giao hàng đúng chất lượng theo thỏa thuận. Nếu bên bán vẫn không chấp nhận thì bạn có quyền khởi kiện đến Tòa án nhân dân để yêu cầu giải quyết.

Em muốn hỏi là sau khi em được sở kế hoạch đầu tư cấp giấy đăng ký thành lập công ty mà em vẫn chưa có đất để xây dựng trụ sở công ty vậy em có bị thu hồi lại giấy đã được cấp không ạ? Mảnh đất mà em định xây dựng trụ sở công ty đang có tranh chấp và em chưa vào được nhà trên mảnh đất đó để ở do chính quyền địa phương không mở lối vào nhà cho em thì em có quyền kiện chính quyền địa phương buộc phải bồi thường thiệt hại vì không kinh doanh được không ? Em xin cảm ơn

Khoản 1 Điều 211 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: 

"Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong các trường hợp sau đây:

a) Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo;

b) Doanh nghiệp do những người bị cấm thành lập doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 18 của Luật này thành lập;

c) Doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế;

d) Doanh nghiệp không gửi báo cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 209 của Luật này đến Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo hoặc có yêu cầu bằng văn bản;

đ) Trường hợp khác theo quyết định của Tòa án" 

Theo quy định tại Điều 24 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định nội dung giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp có yêu cầu ghi địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp.

Điều 43 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: "Trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc của doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, ngách, hẻm, ngõ phố, phố, đường hoặc thôn, xóm, ấp, xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có)."

Khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: "Nhà ởlà công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân." Do đó, nhà ở không được phép sử dụng để làm trụ sở công ty.

Theo bạn cung cấp thông tin, nhà ở của bạn nằm trên mảnh đất đó và bạn chưa kinh doanh được do chưa xây dựng được trụ sở trên mảnh đất đó và bạn đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Theo quy định của pháp luật, bạn không được quyền đăng ký trụ sở công ty là địa điểm nhà ở của bạn. Hơn nữa, việc đăng ký trụ sở công ty phải có địa chỉ được xác định bằng số nhà. Do đó, nếu bạn chưa có trụ sở công ty mà bạn đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì bạn có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do có hành vi giả mạo trong kê khai hồ sơ. 

Bạn không nói rõ bạn có quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất đó hay không nên nếu bạn có quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất đó để xây dựng trụ sở công ty nhưng mảnh đất bạn dự định xây trụ sở chính có tranh chấp và chính quyền địa phương không mở lối vào nhà cho bạn thì bạn có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân giải quyết tranh chấp và có quyền khiếu nại đến chính quyền địa phương về hành vi không mở lối vào nhà cho bạn và có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nếu bạn chưa có quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất đó để xây dựng trụ sở kinh doanh thì bạn không có quyền yêu cầu chính quyền mở lối vào nhà cho bạn.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Có phải bồi thường thiệt hại không? Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê