Ông A không có liên quan đến việc thu hồi đất, bồi thường để thực hiện dự án D nhưng ông C lại nêu ra trước Hội đồng nhân dân phường X cho rằng ông A là đảng viên nhưng không chấp hành việc thu hồi đất, bồi thường giải tỏa. Tôi xin hỏi: Nội dung như vậy có phải là tố cáo không? Nếu là tố cáo thì thuộc thẩm quyền giải quyết của ai? theo quy định của văn bản luật nào? Mong được giải đáp

Xin cảm ơn !

Người gửi: Thanh Bình.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

Có phải tố cáo hay không ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật tố cáo số 03/2011/QH13

Luật cán bộ, công chức 2008

Nội dung phân tích:

Theo khoản 1 Điều 4 Luật cán bộ, công chức quy định về cán bộ, công chức như sau:

"1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước."

Cũng theo Điều 1 Luật tố cáo quy định về Phạm vi điều chỉnh của luật này:

"Luật này quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; bảo vệ người tố cáo và quản lý công tác giải quyết tố cáo."

Như vậy từ 2 điều trên có thể thấy trường hợp của bạn sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật tố cáo

Căn cứ tại khoản 2 Điều 2 Luật tố cáo về vấn đề giải thích từ ngữ: "Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ".

Như vậy, ông C là chủ tịch UBND phường X, là cán bộ, nếu ông C vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì khi đó ông A mới có quyền tố cáo đến cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền biết. Ở đây, ông C là người nói sai sự thật chứ không phải vi phạm pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Do vậy, trường hợp này ông A không phải là tố cáo

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.

Nội dung trả lời

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Về vấn đề này chúng tôi giải đáp như sau:

 

1. Cơ sở pháp lý

Luật tố cáo 2011

Bộ Luật Hình sự 1999

2. Nội dung tư vấn

Theo quy định tại Điều 2 Luật Tố cáo 2011 thì: "1. Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức."

Như vậy, pháp luật quy định về việc tố cáo: khi phát hiện thấy hành vi vi phạm của bất ký cá nhân nào mà gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của công dân, của Nhà nước thì có quyền được tố cáo cho người có thẩm quyền. Tuy nhiên, theo như bạn trình bày, ông A là người không có liên quan gì về việc thu hồi đất, bồi thường đất trong dự án, nhưng ông C lại tố cáo ông A về việc không chấp hành quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường giải tỏa. Đây là lời nói không đúng sự thật trên thực tế, mà không có sự vi phạm pháp luật của ông A nên sẽ không được coi là tố cáo. Mà sẽ chỉ được tố cáo ông A khi phát hiện thấy hành vi vi phạm pháp luật khi ông A thực hiện công vụ, nhiệm vụ của mình. Hơn nữa, dựa trên mức độ nghiêm trọng của hành vi này, ông C còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi vu khống. Theo đó, tại Điều 122 Bộ luật Hình sự quy định về tội vu khống, hành vi vu khống được hiểu như sau: Tội vu khống được biểu hiện ở những hành vi như bịa đặt chuyện xấu xa cho người khác về vi phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức, pháp luật... Bịa đặt là hư cấu những chuyện không có thật; loan truyền những chuyện, những điều biết rõ là bịa đặt, vu oan cho người khác; bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan nhà nước, cho rằng họ đã phạm một tội nào đó. Hành vi vu khống có thể thực hiện thông qua các hình thức như truyền miệng, viết bài, gửi đơn, thư tố giác, thư nặc danh... Trường hợp người đưa tin bịa đặt nhưng lầm tưởng những điều họ loan tin là có thật thì không phạm tội. Hậu quả xảy ra là nạn nhân bị mất uy tín, danh dự hoặc bị thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Tội vu khống được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội thực hiện hành vi loan truyền những điều bịa đặt cho người khác biết hoặc tố cáo với cơ quan nhà nước về việc người khác phạm tội. Như vậy, nếu mức độ của sự việc là nghiêm trọng, dẫn đến việc ông A bị mất uy tín, danh dự thì ông A có quyền được báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi của ông C.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi đối với vấn đề mà bạn thắc mắc. Cảm ơn bạn đã tin tưởng!

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn Luật Hình sự