1. Thực trạng

Ngày nay, cuộc sống hiện đại kéo theo việc phụ nữ được giải phóng bởi những quan niệm tam tòng tứ đức, họ tự chủ hơn trong cuộc sống nên càng có nhiều người phụ nữ lựa chọn việc không kết hôn. Bởi cuộc sống hôn nhân sẽ kéo theo sự rằng buộc rất lớn đối với phụ nữ. Họ không muốn kết hôn, nhưng vẫn muốn được sinh con, được làm mẹ dẫn đến việc nay có rất nhiều đứa trẻ sinh ra khi mà bố mẹ không có đăng ký hôn thú. Khi đi đăng ký khai sinh cho những trẻ trong trường hợp này thì chúng tôi nhận được rất nhiều phản ánh của cắc cặp bố mẹ là cán bộ tư pháp hộ tich yêu cầu phải cung cấp được giấy xác nhận ADN, mà chi phí cho việc xác nhận ADN không phải là nhỏ và vấn đề là việc xác nhận ADN cũng là một việc mang tính chất nhạy cảm, không phải ông bố bà mẹ nào cũng muốn làm. Câu hỏi đặt ra là có hay không băt buộc phải đi xác nhận ADN khi muốn đăng ký khai sinh cho con trong trường hợp bố mẹ không có đăng ký kết hôn? Là vấn đề tôi sẽ đề cập trong bài viết này:

2. Căn cứ pháp lý

Luật hộ tịch năm 2014;

Nghị định 123/3015/NĐ-CP;

Thông tư 15/2015/TT-BTP

3. Nội dung tư vấn

Muốn đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú cha mẹ cần phải làm thủ tục công nhận cha cho con việc này được thực hiện theo hướng dẫn trong bài viết Làm thế nào xác nhận cha cho con sinh ra ngoài giá thú? sau đó muốn lấy họ cha cho con thì thực hiện thủ tục theo hướng dẫn trong bài viết Làm thế nào để đăng ký khai sinh theo họ cha khi sinh con ngoài giá thú? 

Thực hiện việc đăng ký nhận cha, con được thực hiện theo hướng dẫn Nghị định 123/2015/NĐ-CP như sau:

Điều 19. Đăng ký nhận cha, mẹ, con

1. Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó với công dân của nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam, tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú.

2. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con xuất trình giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Nghị định này và trực tiếp nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã; hồ sơ đăng ký nhận cha, mẹ, con gồm các giấy tờ sau đây:

a) Tờ khai nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định;

b) Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ cha - con hoặc quan hệ mẹ - con;

c) Bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của công dân nước láng giềng.

3. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra hồ sơ, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở Ủy ban nhân dân và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã quyết định. Trường hợp phải xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 12 ngày làm việc.

Nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung vào Sổ hộ tịch, cùng người có yêu cầu ký, ghi rõ họ tên vào Sổ hộ tịch; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ký cấp cho mỗi bên 01 bản chính trích lục hộ tịch.

Giấy tờ tài liệu chứng minh quan hệ cha - con được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư 15/2015/TT-BTP như sau:

Điều 11. Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con 

Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây: 

1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con. 

2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng. 

Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật. 

Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

 Như vậy tài liệu chứng minh mối quan hệ cha con là:

Thứ nhất: Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền trong nước hoặc nước ngoài xác nhận;

Thứ hai: Trường hợp không có văn bản xác định thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối qua hệ, và văn bản cam đoan của cha mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Như vậy nếu trong trường hợp không có xác nhận ADN bố mẹ hoàn toàn có thể xuất trình những chứng cứ khác như  thư từ, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác và cam đoan về việc có con chung và nhờ những người họ hàng xác nhận làm chứng. Việc cán bộ tư pháp hộ tịch yêu cầu phải bắt buộc có xác nhận ADN là không đúng theo quy định. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì về ý kiến tư vấn xin hãy liên hệ với tổng đài  1900.6162 

Nếu bạn muốn đặt lịch tư vấn trực tiếp tại văn phòng vui lòng tham khảo bài viết: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp tại văn phòng 

Bạn cũng có thể tham khảo thêm:  Một số video tư vấn pháp luật lĩnh vực hôn nhân gia đình do Luật Minh Khuê xây dựng hoặc tham gia trả lời trên truyền hình

Rất mong được phục vụ Quý khách hàng trên phạm vi cả nước!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hộ tịch - Công ty Luật Minh Khuê.